AI Truyện
Mẻ lò cuối ở vườn măng cụt Lái Thiêu

🏠 Gia đình & vả mặt

Củi cao su

Mẻ lò cuối ở vườn măng cụt Lái Thiêu · Chương 17/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 17: Củi cao su

Bà Út Hên đặt cái khuôn bánh bò bằng nhôm lên bàn cân ngoài hiên, cái khuôn méo một góc, đáy đen bóng vì năm chục năm lửa.

– Đốt cái này được không? – bà hỏi.

– Dạ không được đâu bà, – thằng Sóc nói, cố nhịn cười. – Nhôm vô lò là chảy.

– Vậy thì thôi. – Bà Út Hên cầm cái khuôn lên lại, lục trong giỏ ra một cái hũ sành nhỏ màu da lươn, miệng sứt. – Cái này. Cái này lò ông Tư đốt năm tám mươi mấy. Tao đựng mỡ hành ba chục năm. Tao muốn nó vô lò lần nữa.

Thằng Sóc nhận cái hũ, ghi tên bà Út Hên lên một mảnh băng keo giấy, dán dưới đáy. Nó đặt cái hũ lên tấm ván dài, cạnh mấy chục món đồ khác mà người ta mang tới từ sáng. Một cái chậu kiểng sứt chân của ông Tám Rỗ. Một cái bình vôi của bà Mười bán cá. Một cái lu nhỏ đựng nước mắm của nhà chú Chín Cò. Một cái tượng ông Địa nứt lưng của một bà nào đó ở Bình Nhâm không ai quen. Đồ cũ đốt lại không ra gì, ông nội nói vậy, men cũ gặp lửa mới có khi bể. Nhưng người ta vẫn mang tới.

Chuyện bắt đầu từ hôm anh Hai Trọng ra chợ.

Sáu giờ sáng một ngày đầu tháng Tám, anh đi bộ ra chợ Lái Thiêu, ngồi xuống cái ghế nhựa trước sạp bánh bò của bà Út Hên, gọi một dĩa bánh với ly trà đá. Rồi anh kể. Anh kể cho bà Út Hên, cho bà Mười bán cá, cho bà Bảy Xiêm đang dọn sạp, cho mấy ông xe ôm ngồi uống cà phê, cho bất cứ ai dừng lại nghe. Anh kể chuyện đêm hai mươi tháng Mười Một, chuyện can rượu đế, chuyện cái lò hư, chuyện ông Sáu Vạn không có mua củi ướt. Anh kể đúng như anh đã kể ở rẫy điều Lộc Ninh, không thêm, không bớt. Anh kể xong, trả tiền dĩa bánh, rồi đứng dậy đi về.

Bà Bảy Xiêm kể lại với bà Tư rằng cả cái chợ im như có tang. Rồi trưa hôm đó, bà Út Hên đóng sạp sớm. Chiều hôm đó, Lực gọi cho chị Ba Lài, nói sếp anh ta không nhắc tới chuyện đăng lên mạng nữa. "Còn gì để đăng đâu chị," Lực nói. "Cả chợ biết rồi, mà biết từ chính miệng ảnh."

Hai ngày sau, người ta bắt đầu mang đồ tới.

Củi cao su về vào ngày mười hai tháng Tám. Hai xe tải, bốn mươi khối, củi xẻ thành thanh dài một thước, khô cong, mùi mủ chua chua còn vương. Chú Chín Cò đứng chỉ chỗ xếp, chất thành hai dãy cao ngang đầu dọc hai bên hông lò, sát mấy cái lỗ châm củi đánh số. Nhân với thằng Sóc khiêng. Anh Hai Trọng khiêng. Bà Bảy Xiêm đứng chửi đứa nào xếp củi không thẳng hàng.

Ông Sáu Vạn xuống hôm mười ba, lần này ở luôn. Chị Bông cũng xuống theo, mang hai bao hột điều với một con gà mái dầu, nói ba ở đâu chị ở đó, sợ ba té.

Xếp lò mất bốn ngày.

Không có một ngàn tám trăm cái lu như năm chín mươi sáu. Chỉ có chừng ba trăm món. Một trăm hai chục là đồ thằng Sóc làm lại sau cái đêm ba nó đập, chén, đĩa, bình, hũ, có món ông nội tráng men giùm, có món nó tự tráng. Mấy chục món là đồ cũ người ta mang tới. Còn lại là mấy cái lu, cái chậu ông Tư với ông Sáu cùng chuốt hồi tháng Sáu, tháng Bảy. Hai ông già ngồi hai bên bàn xoay, một ông đui, một ông chân cứng, cãi nhau về độ dày của cái vách.

Và bộ chén con gà.

Ông Tư vẽ bộ chén con gà vào những đêm cuối tháng Bảy, trong cái chái nhỏ. Thằng Sóc pha màu, rửa cọ, xoay cái chén cho ông. Ông đưa cái chén sát mắt, sát tới mức chóp mũi gần chạm men, rồi vẽ. Mười mấy cái chén. Một cái cho bà Tư. Một cái cho chị Ba Lài, cái cũ của chị đã sứt miệng. Một cái cho cô Út. Một cái cho chị Thơ, lần đầu tiên chị có một cái chén con gà. Một cái cho thằng Bi. Một cái cho ông Sáu Vạn. Một cái cho chị Bông. Một cái cho chú Chín Cò. Một cái cho bà Bảy Xiêm, ông Tư vẽ con gà mái, nói "cho bả cãi". Một cái ông vẽ xong, đưa thằng Sóc, không nói cho ai. Thằng Sóc nhìn cái chén, rồi nhìn ra phía cái xe bảy chỗ màu bạc đậu ngoài cổng, và hiểu.

Và một cái nữa.

Một đêm giữa tháng Tám, lúc lò đang xếp dở, ông Tư kêu thằng Sóc đi ngủ trước. Thằng Sóc đi ra tới cửa chái thì quay lại. Nó thấy ông nội ngồi một mình dưới bóng đèn tròn, cầm một cái chén mộc, đưa sát mặt. Tay ông run hơn mọi đêm. Ông vẽ rất lâu. Rồi ông gói cái chén trong một mảnh vải bố, đặt vô một cái bao nung bằng đất chịu lửa, đậy nắp lại, lấy đất sét trét kín mép.

– Ông nội, cái đó của ai vậy?

– Đi ngủ đi.

– Ông nội…

– Đi ngủ.

Thằng Sóc đi. Nhưng sáng hôm sau, ông Tư với chú Chín Cò xếp cái bao nung đó vô khoang giữa lò, đúng chỗ một trăm mấy chục cái lu đã nứt năm chín mươi sáu. Thằng Sóc đứng bên ngoài lỗ châm củi số mười một, nhìn qua cái lỗ, nhớ kỹ chỗ đó.

Chiều mười sáu, chị Thơ về.

Chị chạy xe máy tới, xách hai cái cà mên ba ngăn, đi thẳng ra đầu gò. Chị không nhìn chồng. Chị đặt cà mên lên cái bàn tre kê dưới gốc măng cụt, mở ra: cơm trắng, thịt kho tiêu, canh chua cá lóc, dưa leo chẻ. Chị gọi thằng Sóc, gọi chú Chín, gọi cậu Nhân, gọi bà Bảy Xiêm, gọi ông Sáu ra ăn. Chị gọi tên từng người, trừ một người.

Anh Hai Trọng đứng ở đuôi lò, tay còn cầm cái bay trát đất sét. Anh đứng đó nhìn vợ múc canh. Rồi chị múc một chén canh, đặt xuống cái ghế đẩu cạnh đuôi lò, ngay chỗ anh đứng, không nói gì, quay đi.

– Thơ.

Chị dừng lại.

– Cái nhẫn, – anh nói. – Má cất trong tủ thờ. Má nói không ai được đụng.

– Em biết.

– Em có… em có lấy lại không?

Chị Thơ đứng quay lưng lại anh. Gió chiều thổi qua đầu gò, thổi tung mấy sợi tóc mai của chị.

– Má nói với em rồi. Ba đêm đốt lò, anh giữ lửa. Không ai thay.

– Ừ.

– Chừng nào anh thức đủ ba đêm, – chị nói, – thì mình tính.

Chị đi về phía bàn cơm. Anh Hai đứng nhìn theo. Rồi anh cúi xuống, cầm chén canh lên, uống một hơi hết sạch, nóng phỏng cả lưỡi.

Tối hôm đó, Út Khuê dắt Nhân vô nhà trên. Cô làm đúng lời chị Ba dặn: ngồi xuống, nói đàng hoàng. Nhân không đứng ở cổng. Anh đi vô, cởi dép ở bậc thềm, ngồi xuống cái chiếu dưới chân bộ ván, hai tay đặt trên đầu gối.

– Ba, – Út Khuê nói. – Con với anh Nhân thương nhau. Tụi con muốn xin ba má cho tụi con cưới.

Ông Tư ngồi trên bộ ván, quay mặt về phía hai đứa. Bà Tư ngồi cạnh ông, tay cầm cái quạt nan.

– Cậu Nhân, – ông nói. – Ba cậu biết chưa?

– Dạ ba con biết. Ba con nói chuyện cưới hỏi là chuyện của hai bác. Ba con không nói gì thêm.

– Không nói gì thêm là nói gì?

– Dạ, – Nhân ngập ngừng. – Ba con nói, chừng nào ông Tư cho con bước qua cổng thì ba con mới ngồi xuống bàn.

Ông Tư im một lúc lâu. Ngoài chái, có tiếng ông Sáu Vạn đang cãi với chú Chín Cò về cách xếp củi.

– Hai ông già, – ông Tư nói, – ông nào cũng chờ ông kia. – Ông quay qua bà Tư. – Bà coi nó ăn cơm chưa?

– Coi rồi, – bà Tư nói. – Bữa rằm, nó gắp cá cho ông trước. Ông không thấy chớ tui thấy.

Út Khuê quay qua nhìn má. Bà Tư phe phẩy cái quạt, mặt tỉnh bơ.

– Đốt lò xong rồi tính, – ông Tư nói. – Lò ra mà còn nguyên thì tính.

Nhân cúi đầu thật thấp. Út Khuê thấy vai anh run run, và cô biết anh đang cố không cười, hay cố không khóc, cô không phân biệt được.

Thứ Bảy, Toản chở thằng Bi xuống. Thằng nhỏ đeo cái ba lô có hộp bút, hộp màu, một cuốn tập vẽ. Nó nói nó muốn vẽ cái lò lúc có lửa. Toản đứng ở cổng một lúc, nhìn cái lò, nhìn đống củi, nhìn những người lấm lem đang chạy tới chạy lui. Bà Tư mời anh ở lại ăn cơm. Anh ở lại. Rồi anh ở lại tới tối, cởi áo sơ mi ra, mặc áo thun, khiêng củi phụ với Nhân. Chị Ba Lài đứng nhìn chồng cũ khiêng củi, không nói gì, chỉ mang ra cho anh một ly nước đá.

Lò đốt vào sáng Chủ nhật, mười tám tháng Tám.

Tối thứ Bảy, cả nhà ngồi quanh cái bàn tre dưới gốc măng cụt, ăn bữa cơm cuối trước khi nhóm lửa. Ông Tư dặn từng người. Chú Chín Cò giữ bầu đốt ngày đầu. Ông Sáu Vạn giữ đồng hồ, cứ một tiếng báo giờ cho bà Tư gõ mõ một lần, ông nói mắt ông còn tốt hơn mắt ông Tư. Nhân với thằng Sóc khiêng củi. Chị Ba Lài, cô Út, chị Thơ, chị Bông lo cơm nước, lo nước uống, lo người. Và anh Hai Trọng giữ lửa ở mấy cái lỗ châm củi, từ đêm thứ hai, ba đêm, không ai thay.

– Còn ba? – Út Khuê hỏi. – Ba làm gì?

– Tao ngồi, – ông Tư nói. – Tao nghe.

Thằng Bi ngồi cạnh thằng Sóc, giở cuốn tập vẽ ra, vẽ cái lò. Nó vẽ cái lò như con rồng nằm ngủ, ống khói là cái đuôi dựng lên trời. Bà Bảy Xiêm nghé đầu qua coi, khen đẹp, rồi chê con rồng mập quá. Thằng Bi nói con rồng này ăn củi cao su nên mập. Cả bàn cười.

Thằng Sóc cầm điện thoại, bấm coi thời tiết như một thói quen. Nó đọc lướt rồi dừng lại. Nó đọc lại lần nữa.

– Ông nội.

– Gì?

– Đài nói có áp thấp ngoài biển. Tối mốt, đúng đêm thứ hai đốt lò, dông lớn. Mưa to, gió giật cấp bảy.

Cả bàn cơm im lặng. Chú Chín Cò đặt đôi đũa xuống. Ông Sáu Vạn nhìn ông Tư. Mái tôn của cái lò, mới lợp hai tháng trước, phát ra một tiếng kêu nhỏ trong gió tối, như một ai đó vừa thở dài.

— Hết chương 17 —

Mục lục Mẻ lò cuối ở vườn măng cụt Lái Thiêu

  1. 1Đám giỗ ông cố10 phút
  2. 2Năm trăm triệu9 phút đọc
  3. 3Gỏi măng cụt10 phút đọc
  4. 4Cây sào hái trái9 phút đọc
  5. 5Mùa hái10 phút đọc
  6. 6Cái mõ tre9 phút đọc
  7. 7Xe khách lên Lộc Ninh9 phút đọc
  8. 8Đêm hai mươi tháng Mười Một10 phút đọc
  9. 9Con gà nhắm mắt9 phút đọc
  10. 10Bà Tư phát trực tiếp10 phút đọc
  11. 11Tiền học thêm9 phút đọc
  12. 12Trong bụng lò9 phút đọc
  13. 13Sửa lò9 phút đọc
  14. 14Thằng Bi về ngoại9 phút đọc
  15. 15Một tỷ hai9 phút đọc
  16. 16Phần có cái lò9 phút đọc
  17. 17Củi cao su9 phút đọc
  18. 18Ba ngày ba đêm9 phút đọc
  19. 19Ra lò10 phút đọc
  20. 20Tám mươi tuổi11 phút đọc

Về truyện này

Mẻ lò cuối ở vườn măng cụt Lái Thiêu là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Khánh của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →