AI Truyện
Mẻ lò cuối ở vườn măng cụt Lái Thiêu

🏠 Gia đình & vả mặt

Năm trăm triệu

Mẻ lò cuối ở vườn măng cụt Lái Thiêu · Chương 2/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 2: Năm trăm triệu

Ba giờ chiều, cái xưởng bên kia chợ Búng im như nhà có tang.

Anh Hai Trọng đứng ở cửa kho, nhìn bốn dãy bàn ghế gỗ tràm bọc ni lông xếp cao tới nóc. Bàn ăn sáu ghế, ghế xếp ngoài trời, ghế dài ván ghép. Bốn công-te-nơ hàng, đúng ra đã lên tàu từ tháng Giêng. Khách bên kia gửi một cái thư dài ba trang, câu nào cũng lịch sự, tóm lại chỉ một ý: họ không nhận nữa. Tiền cọc ba chục phần trăm họ không đòi lại, coi như huề. Phần còn lại, bảy chục phần trăm, là tiền gỗ, tiền sơn, tiền công anh đã ứng ra, giờ đứng thành bốn dãy dưới mái tôn, mỗi ngày một ít bụi.

Ba chục thợ hồi Tết, giờ còn chín. Chín người đó đang ngồi chơi cờ tướng dưới gốc me, thấy anh về thì đứng dậy, cầm giấy nhám chà lấy chà để mấy cái chân ghế đã chà rồi.

– Thôi, – anh nói. – Mấy anh em ngồi đi. Không có hàng thì ngồi.

Ông Hiếu, thợ cả, đi lại gần anh. Ông theo anh từ hồi xưởng còn có ba người.

– Hai, chiều nay có hai thằng nhỏ của bà Mười tới. Tui nói anh đi đám giỗ. Tụi nó nói tối tụi nó tới nhà.

– Tới nhà?

– Ừ. Tui nói tụi nó đừng tới nhà, chị Thơ ở nhà. Tụi nó cười.

Anh Hai Trọng gật đầu, lấy điện thoại ra coi. Mười một cuộc gọi nhỡ. Ba cuộc của ngân hàng, hai của một số lạ, sáu của vợ. Anh đọc tin nhắn ngân hàng một lần nữa, dù đã đọc nó ba lần từ sáng. Khoản vay hai tỷ bốn đã quá hạn kỳ trả lãi thứ ba. Đề nghị quý khách liên hệ chi nhánh trong vòng mười ngày làm việc, nếu không ngân hàng sẽ tiến hành các bước xử lý tài sản bảo đảm theo hợp đồng. Tài sản bảo đảm là cái xưởng này, và căn nhà ba tầng gần chợ Búng, nơi vợ con anh đang sống.

Anh vô phòng làm việc, đóng cửa. Trên bàn có một tờ lịch để bàn, anh đã khoanh mực đỏ một ngày đầu tháng Sáu âm lịch. Bên cạnh ghi một con số: một tỷ. Đó là hạn chót của giấy nhận cọc anh ký với Lực, và số tiền anh phải trả nếu không đưa được ba má ra ký: năm trăm trả lại, năm trăm phạt.

Năm trăm triệu đó anh đã tiêu sạch. Hai trăm trả lương thợ ba tháng nợ, để chín người còn lại không bỏ đi. Ba trăm đưa cho bà Mười Lan, trả lãi ngày và bớt một chút gốc. Khoản của bà Mười Lan là chín trăm triệu, lãi tính theo ngày, ba ngàn đồng một triệu một ngày. Anh đã tính đi tính lại bằng cái máy tính bỏ túi, một ngày hai triệu bảy, một tháng tám mươi mốt triệu, chỉ riêng tiền lãi. Lúc vay, anh tưởng ba tháng là khách trả tiền hàng. Bây giờ là tháng thứ bảy.

Anh ngồi xuống ghế, tựa đầu ra sau. Trần nhà có một vệt nước loang hình cái bản đồ.

Lúc ở đám giỗ, khi con Ba nói nó ly dị rồi, anh đã thấy lạnh xương sống. Anh chưa kịp hiểu vì sao. Anh chỉ nhớ tới một đêm hai năm trước, anh ngồi ngay cái ghế này, gọi cho em gái lúc hai giờ sáng. Anh không nhớ mình đã nói gì, chỉ nhớ mình khóc, cái kiểu khóc của đàn ông năm mươi tuổi mà anh tưởng không bao giờ có. Ba ngày sau, con Ba chuyển cho anh một tỷ hai. Nó chỉ nhắn một dòng: "Anh đừng nói với ai, kể cả ba má." Anh chưa trả nó được đồng nào.

Bữa nay ngồi đối diện em gái, anh không dám hỏi nó vì sao ly dị. Anh sợ nó trả lời.

Điện thoại rung. Vợ anh.

– Anh đâu rồi? Đám giỗ xong chưa?

– Xong rồi. Anh ghé xưởng chút.

– Ngân hàng gọi nhà nữa đó. Cô gì ở ngân hàng nói anh không nghe máy. Có chuyện gì không anh?

– Không có gì. Trễ một kỳ lãi thôi. Tuần sau khách trả tiền là xong.

– Khách nào? Khách bên kia hủy rồi mà?

– Khách khác. Em đừng lo.

Anh nghe vợ thở ra ở đầu dây. Chị Thơ may đồ bộ bỏ mối cho mấy sạp ở chợ Búng, chị biết đếm tiền từng đồng, nhưng chị không biết xưởng của chồng nợ bao nhiêu. Hai mươi năm làm vợ, chị chưa bao giờ hỏi, anh chưa bao giờ nói. Anh coi đó là cái phần của mình, như ông Tư coi cái lò là phần của ông.

– Còn thằng Sóc? – chị hỏi.

– Nó ở lại bên nội. Hè mà, cho nó ở bên đó phụ hái măng cụt.

– Học thêm toán tối thứ Hai nó nhớ không?

– Nó nhớ.

Anh cúp máy. Bảy giờ tối anh về nhà. Chị Thơ dọn cơm ra bàn, canh bí đỏ nấu tôm khô, cá rô kho tộ, đĩa rau lang luộc chấm chao. Chị vừa ăn vừa kể chuyện mối hàng: sạp bà Tám ở chợ Búng lấy thêm ba chục bộ đồ bộ vải tôn, giá cũ, nhưng đòi trả chậm nửa tháng.

– Em cho trả chậm không? – anh hỏi, cho có chuyện.

– Cho. Bả lấy hàng của em mười năm rồi. Người ta lâu năm thì mình phải tin chớ anh.

Anh gật, gắp miếng cá. Chị Thơ nói tiếp chuyện tiền học thêm của thằng Sóc, hè này ba triệu một tháng, cô giáo dạy toán ở nhà văn hóa, lớp hai mươi đứa. Chị nói chị đã đưa thằng Sóc ba triệu để nó đóng cho cô tháng này rồi, bằng tiền bán đồ bộ, không đụng tới tiền anh. Chị nói chuyện đó như khoe. Anh nghe mà thấy miếng cá trong miệng đắng ngắt.

– Anh có chuyện gì không? – chị hỏi, bỏ đũa xuống. – Mặt anh xám ngắt.

– Đau đầu. Chắc nắng.

Anh ăn được nửa chén cơm thì đi lên lầu nằm. Tám giờ có tiếng xe máy dừng trước cửa. Anh nhìn qua khe rèm. Hai thằng nhỏ, một thằng đội nón kết ngược, một thằng mặc áo ba lỗ có hình xăm con cá chép trên bắp tay, ngồi trên xe nhìn vô nhà. Không bấm chuông, không la. Chỉ ngồi đó, hút thuốc, nhìn. Ở dưới nhà, chị Thơ đang cắt vải trên cái bàn dài, máy may kêu rè rè. Chị không thấy.

Mười lăm phút sau, hai thằng nhỏ đề máy chạy đi. Điện thoại anh hiện một tin nhắn từ số lạ: "Chị Mười hỏi thăm anh Hai. Thứ Bảy này nha anh."

Anh nằm tới mười một giờ không ngủ được. Vợ anh lên, tắt đèn, nằm quay lưng vô vách, chừng mười phút sau đã thở đều. Anh ngồi dậy, mặc lại cái quần tây còn dính bùn, cầm chìa khóa xe đi xuống.

Đường về vườn ban đêm có mùi bùn và mùi bông sứ. Khúc đường đất trước cổng vẫn còn nhão, anh phải dắt xe đi bộ. Con chó vện chạy ra, ngửi chân anh, không sủa. Trong nhà tắt đèn hết, chỉ có bóng đèn vàng nhỏ ở bàn thờ. Anh dựng xe dưới gốc măng cụt, định đi vô hiên ngủ trên cái ghế bố của ba, sáng ra nói chuyện. Rồi anh thấy có cái gì động đậy ở đầu gò.

Cái lò rồng nằm bò trên con gò đất phía trước vườn, cạnh lối đi ra đường mới. Hai mươi hai mét, lưng khum, gạch đỏ đã ngả đen, mái tôn che phía trên rỉ sét lỗ chỗ. Hai bên hông lò có hai hàng lỗ châm củi, mỗi hàng mười một cái, giờ cái nào cũng đã bị gạch vụn và lá khô lấp. Đầu lò là cái bầu đốt, miệng rộng như cái hang. Đuôi lò là ống khói vuông, cao hơn ngọn măng cụt, mấy năm nay chim sáo về làm tổ.

Ông Tư ngồi trên một khúc gỗ trước miệng bầu đốt, quay mặt vô cái hang tối đen. Ông không có đèn. Ông cũng không cần đèn.

Anh Hai Trọng đứng lại cách ông chừng ba thước. Ba mươi năm rồi anh không đứng ở chỗ này ban đêm. Anh đã đi ngang cái lò hàng ngàn lần, ban ngày, lúc nó chỉ là một đống gạch cũ. Ban đêm nó khác. Ban đêm nó vẫn có cái mùi, mùi tro nguội ngấm vô gạch, mà anh tưởng mình đã quên.

– Ba.

– Trọng hả?

– Dạ. Khuya rồi sao ba chưa ngủ?

– Già rồi ngủ ít. Mày về chi giờ này?

Anh ngồi xuống bậc gạch cạnh ông. Muỗi bay vo ve. Anh định nói về cái giá đất, về bốn công-te-nơ hàng, về chuyện ba má già rồi không làm nổi vườn. Anh đã sắp sẵn trong đầu suốt đường về. Rồi anh mở miệng, và cái câu đi ra là một câu khác hẳn.

– Ba, con kẹt tiền.

Ông Tư không quay qua.

– Bao nhiêu?

– Nhiều, ba.

– Nhiều là bao nhiêu?

– Ba tỷ mấy. Gần bốn.

Ông im. Ở dưới rạch có con cá đớp nước một cái. Rồi ông nói, chậm, như đọc một tờ giấy ông đã thuộc.

– Ba tỷ mấy. Mày nợ ngân hàng, nợ người ngoài. Bữa nay mày dẫn thằng nhỏ đó về là vì mày đã lấy tiền của nó rồi. Phải không?

Anh Hai Trọng không trả lời. Anh không biết ba nghe được từ đâu, hay ba chỉ đoán. Ba anh đã đoán anh như vậy từ hồi anh mười tuổi, đoán anh trốn học, đoán anh ăn cắp tiền chợ của má, đoán anh tông xe vô cột điện rồi nói là bị người ta tông.

– Ba, con xin ba. Con không xin hết. Con xin một khúc vườn phía đường mới thôi. Một khúc thôi ba. Bán được là con trả hết, con làm lại từ đầu.

– Khúc phía đường mới là khúc có cái lò.

– Cái lò bỏ mười mấy năm rồi ba. Không ai đốt nữa.

Ông Tư đứng dậy. Ông chống gậy, đi tới sát miệng bầu đốt, đặt tay lên vòm gạch. Anh Hai thấy cái bàn tay ông trong ánh trăng non, gầy, đốm đồi mồi, ngón trỏ cong vẹo vì năm mươi năm cầm bút vẽ men.

– Trọng, – ông nói, không quay lại. – Mày lại ngủ quên nữa phải không?

Anh Hai Trọng ngồi chết trân trên bậc gạch. Câu đó ba anh chưa từng nói ra thành lời, ba mươi năm nay chưa từng. Nó chỉ nằm trên cái chén, trên con gà nhắm mắt, mỗi năm một lần vào ngày giỗ ông nội. Bây giờ nó nằm giữa hai cha con, trong bóng tối, trước cái miệng lò đen ngòm.

Ở trong nhà, cái buồng cạnh rạch vẫn còn ánh đèn điện thoại xanh lét sau tấm rèm. Anh không biết đứa nào còn thức, và nó đã nghe được bao nhiêu.

— Hết chương 2 —

Mục lục Mẻ lò cuối ở vườn măng cụt Lái Thiêu

  1. 1Đám giỗ ông cố10 phút
  2. 2Năm trăm triệu9 phút đọc
  3. 3Gỏi măng cụt10 phút đọc
  4. 4Cây sào hái trái9 phút đọc
  5. 5Mùa hái10 phút đọc
  6. 6Cái mõ tre9 phút đọc
  7. 7Xe khách lên Lộc Ninh9 phút đọc
  8. 8Đêm hai mươi tháng Mười Một10 phút đọc
  9. 9Con gà nhắm mắt9 phút đọc
  10. 10Bà Tư phát trực tiếp10 phút đọc
  11. 11Tiền học thêm9 phút đọc
  12. 12Trong bụng lò9 phút đọc
  13. 13Sửa lò9 phút đọc
  14. 14Thằng Bi về ngoại9 phút đọc
  15. 15Một tỷ hai9 phút đọc
  16. 16Phần có cái lò9 phút đọc
  17. 17Củi cao su9 phút đọc
  18. 18Ba ngày ba đêm9 phút đọc
  19. 19Ra lò10 phút đọc
  20. 20Tám mươi tuổi11 phút đọc

Về truyện này

Mẻ lò cuối ở vườn măng cụt Lái Thiêu là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Khánh của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →