Chương 19: Ra lò
Bàn tay phải của ông Tư nằm trên tấm chăn trắng của bệnh viện như một con cá đã thôi quẫy.
– Ba bóp tay con coi, – Út Khuê nói.
Ông bóp. Mấy ngón tay nhúc nhích, cong lại một chút, rồi buông ra. Út Khuê cầm bàn tay đó trong hai bàn tay mình, cái bàn tay đã vẽ mấy ngàn con gà, và nó mềm oặt.
Bác sĩ ở bệnh viện Thủ Dầu Một nói ông bị tai biến nhẹ, nhồi máu não, đưa vô kịp. Nói được, nghe được, đi được nếu có người đỡ. Tay phải yếu. Tập vật lý trị liệu thì có thể khá lên một phần, bao nhiêu thì chưa nói trước được. Bác sĩ nói chậm, rõ, nhìn thẳng vô từng người trong gia đình, không hứa gì hơn những gì chắc chắn. Anh Hai Trọng đứng cuối giường, nghe hết, gật đầu, rồi đi ra hành lang đứng một mình rất lâu.
Ông Tư tỉnh lại vào chiều ngày hai mươi mốt. Câu đầu tiên ông nói, giọng đớt đi một chút, chữ nọ dính chữ kia:
– Lò… đừng mở.
– Dạ, chưa mở ba. Lò còn nóng. Ba ngày nữa mới nguội.
– Đừng mở… khi tao chưa về.
Không ai dám mở.
Ngày hai mươi ba, một công chứng viên tới bệnh viện. Luật cho phép công chứng ngoài trụ sở khi người ký già yếu, không đi lại được, Lực đã hỏi kỹ và lo hết giấy tờ. Anh ta tới cùng công chứng viên, xách theo một hộp bánh bò của má anh ta, đặt lên cái tủ đầu giường.
– Má con gửi ông. Má con nói ông ăn không được thì để bà ăn.
Bà Tư ngồi bên giường, nhìn hộp bánh bò, rồi nhìn Lực.
– Bánh má mày vẫn nhỏ xíu.
– Dạ, – Lực cười. – Nhỏ mà ngọt bà.
Công chứng viên đọc hợp đồng. Một ngàn hai trăm mét vuông, mặt tiền đường mới, gồm cái lò, cái chái, con gò. Bàn giao sau rằm tháng Chín. Ông Tư nghe hết, gật đầu. Tới lúc ký, ông cầm cây viết bằng tay phải, theo thói quen tám mươi năm. Cây viết rớt xuống chăn. Ông cầm lại. Nó rớt nữa.
Cả phòng im lặng.
Ông Tư đổi cây viết qua tay trái. Ông cầm nó vụng về như đứa con nít lần đầu cầm bút. Ông ký. Chữ ký ngoằn ngoèo, run rẩy, nghiêng hẳn về một bên, không giống chút nào cái chữ ký nghiêng nghiêng như chữ thảo mà ông đã ký dưới đáy mấy ngàn cái lu. Công chứng viên nhìn chữ ký, nhìn ông, rồi nhìn sang anh Hai Trọng đang đứng bên. Anh gật đầu: ba tui tỉnh táo, ba tui tự ký. Công chứng viên hỏi ông thêm mấy câu để chắc chắn, ông trả lời từng câu, chậm mà rõ. Rồi bà Tư ký. Chữ ký của bà to, đậm, đè lên một góc chữ ký của ông.
Lực cầm bộ hợp đồng, cúi đầu thật thấp chào ông bà.
– Ông Tư, – anh ta nói, ngập ngừng ở cửa. – Con xin phép hỏi một câu. Bên con đã hứa với ông rồi, bên con sẽ giữ. Nhưng con muốn biết, ông đốt lò lần cuối để làm gì vậy ông?
Ông Tư quay mặt về phía giọng nói. Ông nghĩ một lúc.
– Để coi, – ông nói, – có ai… ngủ quên không.
Lực không hiểu. Anh ta gật đầu, đi ra.
Ngày hai mươi tám, ông Tư xuất viện. Anh Hai Trọng mượn chiếc xe lăn của bệnh viện, đẩy ba từ cổng vô, qua sân, qua hàng măng cụt, ra tới đầu gò. Cả nhà đã đứng chờ. Chú Chín Cò, ông Sáu Vạn, chị Bông, Nhân, Toản, thằng Bi, bà Bảy Xiêm, bà Út Hên, ông Tám Rỗ, bà Mười bán cá, mấy người ở chợ mang đồ tới đốt mà ông Tư không nhớ tên. Cái lò nằm im dưới mái tôn mới, tấm bạt xanh vẫn còn cột ở đầu lò. Miệng bầu đốt trát đất sét kín mít, nứt nẻ chân chim vì nóng rồi nguội.
– Mở đi, – ông Tư nói.
Chú Chín Cò cầm cái xà beng, gõ vô lớp đất trát miệng bầu. Đất bể ra từng mảng, rơi xuống. Một luồng hơi ấm phả ra, mùi đất nung, mùi tro củi cao su, mùi men chín. Anh Hai Trọng là người đầu tiên chui vô. Chú Chín Cò theo sau. Thằng Sóc đứng ở cửa, đưa tay vô nhận từng món.
Những món đầu tiên ra là mấy cái lu, cái chậu của hai ông già. Lu da lươn màu nâu sẫm bóng như con lươn vừa lên khỏi nước. Lu nào cũng nguyên. Ông Sáu Vạn cầm một cái lên, gõ ngón tay vô thành lu. Tiếng kêu boong boong, trong veo, kéo dài. Ông nhắm mắt lại nghe.
– Tới, – ông nói. – Chín tới rồi.
Rồi tới đồ thằng Sóc. Một trăm hai chục món. Thằng Sóc nhận từng món từ tay ba nó, xoay xoay, coi kỹ, đặt lên tấm ván. Có cái nứt chân, có cái men chảy loang lổ, có cái bị dính vô bao nung. Nhưng phần lớn ra nguyên vẹn. Cái bình cổ cao làm lại sau cái đêm ba nó đập, ra màu xanh ngọc, men rạn chân chim nhỏ như tơ nhện. Thằng Sóc ôm cái bình trong tay, không nói được câu nào. Ông nội nó ngồi trên xe lăn, chìa bàn tay trái ra. Nó đặt cái bình vô tay ông. Ông rờ cái cổ bình, rờ cái bụng, rờ đường rạn.
– Được, – ông nói. Chỉ một chữ.
Đồ cũ của người trong chợ thì ra nửa nguyên nửa bể. Cái tượng ông Địa nứt lưng nay nứt thêm một đường nữa. Cái bình vôi của bà Mười bán cá vỡ làm đôi. Nhưng cái hũ đựng mỡ hành của bà Út Hên thì ra nguyên, màu da lươn sẫm hơn, bóng hơn. Bà ôm cái hũ, cười móm mém, nói ba chục năm mới thấy nó đẹp lại.
Rồi tới bộ chén con gà.
Từng cái, từng cái một, được đưa ra từ trong bao nung. Men trắng ngà, con gà trống đỏ cam, ba cọng đuôi xanh lá. Cái của bà Tư. Cái của chị Ba. Cái của cô Út. Cái của chị Thơ. Cái của thằng Bi. Cái của thằng Sóc, con gà ông vẽ đêm đầu mùa măng cụt, giờ mới được vô lò. Cái của ông Sáu Vạn. Cái của chị Bông. Cái của chú Chín Cò. Cái của bà Bảy Xiêm, con gà mái đang há mỏ như đang cãi. Bà Bảy Xiêm cầm cái chén lên, coi một hồi, rồi đỏ mặt la lên "ông Tư Khởi chọc tui", mà tay thì ôm khư khư không chịu buông.
Thằng Sóc nhận cái chén của Nhân, đưa thẳng cho Nhân. Nhân cầm lấy, nhìn con gà trống, rồi ngước nhìn ông Tư trên xe lăn. Ông Tư không nói gì. Nhân cúi đầu thật thấp.
Còn một bao nung cuối cùng. Cái bao nung trát đất sét kín mép, nằm ở khoang giữa, chỗ lỗ số mười một.
– Ba, – thằng Sóc nói vọng vô lò. – Ba lấy cái bao ở khoang giữa. Chỗ lỗ mười một. Cái đó ông nội làm.
Một lúc lâu, anh Hai Trọng bò ra, ôm cái bao nung trong tay. Người anh đen thui tro. Anh đặt cái bao xuống tấm ván, nhìn ba mình.
– Mở đi, – ông Tư nói.
Anh Hai lấy cái dao nhíp, cạy lớp đất sét quanh mép. Nắp bao bật ra. Bên trong, giữa một lớp cát mịn, là một cái chén.
Men trắng ngà. Con gà trống màu đỏ cam đứng trên một bụi cỏ xanh, đuôi cong ba cọng lông xanh lá. Nét vẽ run hơn mọi cái chén khác, cái mào lem ra ngoài một chút, cái đuôi hơi lệch. Con gà ngửa cổ lên, cái mỏ mở rộng.
Và con mắt mở. Một chấm đen tròn.
Anh Hai Trọng cầm cái chén trong hai bàn tay. Anh không nói gì. Cả cái đầu gò im phăng phắc, chỉ còn tiếng chim sáo trên ống khói. Thằng Sóc đứng cạnh ba, móc trong túi quần ra cái mảnh chén cũ, cái đầu con gà nhắm mắt, đặt nó cạnh cái chén mới trên tấm ván. Hai con gà, một nhắm, một mở, nằm cạnh nhau.
– Tao vẽ nó trước khi đốt, – ông Tư nói, giọng đớt, chậm. – Tao không biết mày có thức nổi không. Tao cược.
– Ba… – anh Hai nói, và không nói thêm được nữa.
Ông Sáu Vạn chống gậy đi tới. Ông đứng trước tấm ván, nhìn hai con gà. Rồi ông quay qua anh Hai Trọng.
– Ba đêm, – ông nói. – Mày thức đủ. Tao tha mày.
Anh Hai Trọng cúi gập người xuống. Lần này anh quỳ thiệt, ngay trên nền tro trước miệng lò, hai tay vẫn ôm cái chén. Ông Sáu Vạn không đỡ anh dậy. Ông để anh quỳ đó một lúc. Rồi ông quay qua ông Tư trên chiếc xe lăn.
– Còn ông, – ông nói. – Ông xin chưa?
Ông Tư ngồi im trên xe lăn. Cái tay phải nằm vô dụng trên đùi. Ông đưa tay trái lên, chậm rãi, tìm trong không khí, cho tới khi đụng trúng cánh tay của ông Sáu Vạn. Ông nắm lấy cánh tay đó.
– Tui xin ông, – ông Tư nói.
Ông Sáu Vạn đứng yên. Ông nhìn xuống bàn tay trái gầy guộc đang nắm cánh tay mình. Rồi ông thò tay vô túi áo bà ba, lấy ra một gói nhỏ bọc trong khăn tay đã ố vàng. Ông mở khăn ra.
Một cái chén con gà. Men đã ngả màu, miệng sứt một chỗ nhỏ, chân chén mòn nhẵn vì cầm nắm nhiều năm. Con gà trống trên đó cũng đỏ cam, cũng đuôi xanh, cũng mắt tròn. Nhưng bên cạnh nó có thêm một con gà nữa, cũng trống, đứng đối diện, hai con mỏ chạm mỏ.
– Năm chín mươi, – ông Sáu Vạn nói, đặt cái chén vô lòng bàn tay trái của ông Tư, – ngày mình bắt tay làm chung. Ông vẽ cho tui cái này. Ba mươi sáu năm. Tui ăn cơm bằng nó trên Lộc Ninh, mỗi bữa. Lúc ghét ông nhất tui cũng không bỏ. Vợ tui nói, ông ghét người ta mà ăn cơm bằng chén người ta vẽ là sao. Tui nói tại cái chén này nó đẹp.
Ông Tư rờ cái chén. Ngón cái của bàn tay trái lần theo hai con gà, từ cái mào này qua cái mào kia, chậm, như đọc chữ nổi. Ông nhận ra nó. Bàn tay ông bắt đầu run.
– Ông Sáu, – ông nói. – Tui tưởng ông đập nó rồi.
– Đập làm chi, – ông Sáu Vạn nói. – Cái chén có tội gì.
Hai ông già im lặng. Ông Tư ôm cái chén vô ngực bằng bàn tay trái. Một lúc lâu, ông quay đầu, tìm về phía chỗ Út Khuê đang đứng cạnh một người thanh niên cao, đen, tay cầm cái chén con gà mới ra lò.
– Cậu Nhân.
– Dạ, con đây bác.
– Lò ra nguyên rồi, – ông Tư nói. Rồi ông quay mặt về phía ông Sáu Vạn. – Ông Sáu. Thằng nhỏ bước qua cổng được rồi. Tới phiên ông ngồi xuống bàn.
Ông Sáu Vạn nhìn ông Tư, rồi nhìn thằng con trai mình, rồi nhìn đứa con gái út nhà Tư Khởi đang đứng chết trân. Lần đầu tiên từ hồi xuống Lái Thiêu, ông bật cười thành tiếng, cái tiếng cười khàn khàn, ngắn, như tiếng một cái lu vừa ra lò được người ta gõ thử.
— Hết chương 19 —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe