AI Truyện
Mẻ lò cuối ở vườn măng cụt Lái Thiêu

🏠 Gia đình & vả mặt

Tám mươi tuổi

Mẻ lò cuối ở vườn măng cụt Lái Thiêu · Chương 20/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 20: Tám mươi tuổi

Cái cổng mới xây bằng gạch lò, và viên gạch thứ mười bảy bên trụ trái có gắn một cái đầu con gà nhắm mắt.

Sáng mùng tám tháng Chạp, thằng Sóc đứng trước cái cổng, lấy cái giẻ ướt lau lại mảnh sành lần cuối. Mảnh sành nằm lọt thỏm trong lớp vữa, ngang tầm mắt người lớn, men trắng ngà, cái mào đỏ, cái mỏ mở, con mắt nhắm lại thành một nét cong. Ai đi qua cổng cũng thấy. Ai không để ý thì tưởng đó là một mảnh chén bể người thợ hồ tiện tay trét vô cho vui.

Cái lò rồng không còn nữa.

Sau rằm tháng Chín, công ty của Lực đưa máy múc vô. Cả nhà không ai ra coi, trừ anh Hai Trọng. Anh đứng ở đầu gò từ sáu giờ sáng tới trưa. Anh nhìn cái máy múc cắn từng khúc lò, nhìn cái ống khói đổ xuống trong một đám bụi đỏ, nhìn mấy con sáo bay vòng vòng trên trời tìm chỗ đậu. Lực đứng cạnh anh suốt buổi, không nói gì. Trưa, Lực hỏi anh có muốn giữ lại gì không. Anh nói anh muốn giữ gạch. Lực gọi cho sếp. Sếp nói gạch vụn thì lấy đi, khỏi tốn tiền chở.

Ba ngày sau, anh Hai, Nhân, Toản, chú Chín Cò, thằng Sóc và hai người làm công chở về hơn bốn ngàn viên gạch còn nguyên, chất thành đống dưới gốc măng cụt cổ. Ông Sáu Vạn chống gậy đi một vòng quanh đống gạch, chọn ra mấy viên mặt có men chảy xanh ve chai, nói mấy viên này để làm trụ cổng. Ông Tư ngồi trên xe lăn, nghe tiếng gạch chạm nhau lốc cốc, nói gạch lò mà đem xây cổng thì cổng nóng lắm, đứa nào đi qua cũng phải đổ mồ hôi. Cả nhà cười.

Cái hàng rào bông trang ở phía trước giờ là hàng rào mới của khu nhà phố, tường xi măng sơn trắng. Nhà ông Tư còn lại bốn ngàn tám trăm mét vuông, quay mặt ra con rạch thay vì ra con đường mới. Cái cổng gạch lò mở ra một lối đi nhỏ băng qua phần đất mới, nối với con đường. Lực xin được cho nhà ông Tư một lối đi riêng ba mét, ghi rõ trong hợp đồng.

Tám giờ sáng, khách bắt đầu tới.

Hôm nay là mừng thọ tám mươi tuổi của ông Tư Khởi, theo lịch ta. Và cũng là ngày nhà trai qua dạm hỏi. Bà Tư nói gộp lại một bữa cho đỡ tốn, mà ai cũng biết bà gộp lại vì bà muốn ông già nhà bà ngồi ở đầu bàn, trong ngày tám mươi tuổi, nhìn con gái út nhận trầu cau.

Chị Ba Lài lo bếp từ năm giờ sáng. Mâm cỗ có gà luộc lá chanh, heo quay, cá lóc nướng trui, gỏi ngó sen tôm thịt, canh khổ qua, xôi gấc. Và một món không có trong mâm cỗ mừng thọ nào ở Lái Thiêu: một thau gỏi măng cụt to bằng cái nia, dù mùa măng cụt đã qua từ lâu. Chị đã đặt người quen trên Lộc Ninh tìm cho được hai chục ký măng cụt nghịch mùa, giá gấp ba. Bà Tư chửi phung phí. Chị Ba nói đây là món của nhà mình, phải có.

Bốn tháng qua, gỏi măng cụt với măng cụt tươi bán qua mạng đã thành một cái nghề. Mùa măng cụt hết, chị chuyển qua bán măng cụt sấy, mứt măng cụt, chôm chôm, sầu riêng của mấy vườn quanh xóm. Mỗi tối thứ Năm, bà Tư ngồi trước cái điện thoại gắn trên cây chống ba chân, mặc áo bà ba, nói chuyện với vài trăm người lạ về mùa màng, về giá cả, về bà Bảy Xiêm sát vách. Bà Bảy Xiêm thì ngồi ghế bên cạnh, cãi lại, như hai người dẫn chương trình. Người ta coi để nghe hai bà cãi nhau nhiều hơn để mua trái cây.

Thằng Bi xuống từ tối thứ Sáu, ngủ trong buồng của má, nghe con thạch sùng tặc lưỡi. Mỗi hai tuần nó xuống một lần. Toản chở xuống, tối Chủ nhật lên rước. Có lần Toản ở lại ăn cơm. Có lần anh không. Chị Ba Lài không hỏi. Hôm nay Toản tới, mặc áo sơ mi trắng, xách theo một chai rượu thuốc biếu ông Tư, ngồi ở mâm dưới cạnh chú Chín Cò. Anh với chị Ba Lài chào nhau như hai người quen cũ. Chiếc nhẫn cưới của chị đã cất vô hộp từ lâu, và nó sẽ nằm trong hộp. Thằng Bi chạy qua chạy lại giữa hai người, đưa cho ba cái này, đưa cho má cái kia, như một con thoi.

Anh Hai Trọng với chị Thơ đã dọn về ở căn nhà gỗ ba gian từ tháng Chín. Căn nhà ở chợ Búng đã bán, cái xưởng đã sang lại. Anh đi làm thợ mộc cho một xưởng đồ gỗ quen bên Thuận Giao, mỗi sáng sáu giờ đạp xe đi, sáu giờ chiều đạp xe về. Cuối tháng, anh đưa cho má một xấp tiền. Bà Tư không đếm, chỉ bỏ vô cái hộp bánh bằng thiếc, nằm chung với mấy mảnh chén vỡ. Chị Thơ kê cái máy may ở hiên nhà, ngay chỗ cái ghế bố, may đồ bộ bỏ mối như cũ. Chiếc nhẫn cưới đã trở lại ngón tay chị từ buổi sáng hôm sau ngày ra lò. Không ai thấy chị lấy nó trong tủ thờ ra lúc nào. Chỉ thấy bữa đó, chị múc chén canh đầu tiên bỏ vô cái chén con gà mở mắt, đặt trước chỗ chồng ngồi.

Bà Mười Lan đã nhận đủ bốn trăm triệu. Bà xé tờ giấy vay trước mặt anh Hai, rồi nói thằng Hai mà biết điều sớm thì đâu tới nỗi. Ngân hàng đã tất toán. Tiền bán phần đất có cái lò, trừ cái cọc anh Hai đã nhận của Lực, trả cho chị Ba, còn lại một khoản. Bà Tư gửi ngân hàng, không nói cho ai biết bao nhiêu, chỉ nói "để dành cho thằng Sóc đi học". Chị Ba Lài không chịu nhận đủ một tỷ hai. Chị nhận một tỷ, nói hai trăm còn lại là tiền chị góp đốt lò. Không ai cãi được chị.

Mười giờ, nhà trai tới.

Nhà trai không đông. Ông Sáu Vạn đi trước, chống gậy, mặc bộ áo dài gấm xanh mà chị Bông phải mướn ở tiệm trên chợ Lộc Ninh. Chị Bông đi kế bên, bưng cái mâm trầu cau. Thằng Tí bưng hộp bánh. Hai người bà con nữa bưng mâm trái cây, mâm rượu trà. Nhân đi sau cùng, áo dài đen, khăn đóng, cao lênh khênh, mặt căng như sợi dây đàn.

Đoàn nhà trai dừng lại trước cái cổng gạch lò.

Ông Sáu Vạn đứng nhìn cái cổng một lúc lâu. Ông nhìn mấy viên gạch có men chảy xanh ve chai mà chính ông chọn. Ông nhìn cái đầu con gà nhắm mắt trên viên gạch thứ mười bảy. Rồi ông quay lại, nói với thằng con trai.

– Đi trước đi.

Nhân ngẩng lên.

– Ba?

– Cổng nhà người ta, người ta cho mày đi trước. Mày đi trước.

Nhân bước qua cái cổng. Một bước. Anh dừng lại ở phía bên kia, quay lại nhìn ba mình. Ông Sáu Vạn gật đầu, rồi chống gậy bước theo.

Ở bậc thềm nhà ông Tư, cả nhà đã đứng chờ. Ông Tư ngồi trên chiếc ghế bành bằng gỗ, cái ghế anh Hai Trọng đóng trong tháng Mười, có tay vịn bên trái thật chắc để ông chống. Ông mặc áo dài gấm màu đỏ, khăn đóng đỏ, cái tay phải đặt trên đùi. Tay phải đã khá hơn một chút sau ba tháng tập. Cầm được cái muỗng, cầm được ly trà. Cây cọ thì chưa.

Lễ dạm hỏi diễn ra đơn giản. Ông Sáu Vạn đứng ra nói, nói ngắn, như mọi lần ông nói. Ông nói nhà tui nghèo, chỉ có thằng con trai làm đường, có cái tay nghề, có cái lòng. Ông nói con gái nhà ông bà dạy học, giỏi giang, nhà tui không dám cao. Ông nói tui với ông Tư ba mươi năm mới ngồi lại được với nhau một bàn, giờ con cái tụi nó muốn ngồi chung một mâm, thì tui xin ông bà cho tụi nó ngồi.

Ông Tư nghe hết. Ông quay mặt về phía ông Sáu Vạn.

– Ông Sáu, – ông nói. – Tui cho.

Bà Tư cười. Út Khuê đứng sau lưng má, mặc áo dài hồng, nước mắt chảy ròng ròng làm trôi cả lớp phấn chị Ba vừa đánh. Bà Bảy Xiêm đứng ở góc sân, khóc to hơn cả cô dâu, vừa khóc vừa nói tui đã nói con Út nó lựa mà, lựa kỹ mới được thằng này.

Bữa cỗ bắt đầu lúc mười một giờ. Năm mâm, bày trên bộ ván, trên chiếu, ra tới ngoài hiên. Nhân ngồi mâm trên, cạnh ông Tư. Bà Tư để ý. Đĩa gà luộc vừa bưng ra, Nhân cầm đũa, gắp cái phần đùi ngon nhất, đặt vô chén của ông Tư trước, rồi gắp cho ba mình. Bà Tư quay qua bà Bảy Xiêm, nháy mắt một cái. Bà Bảy Xiêm hiểu, gật gù.

Cuối bữa, thằng Sóc bưng ra một cái khay. Trên khay có một cái chén mộc trắng, mấy lọ men màu, mấy cây cọ.

Thằng Sóc bây giờ đã vô lớp mười một. Nó vẫn học thêm toán ba buổi một tuần, đi đủ, không trốn buổi nào. Mấy buổi còn lại, nó đạp xe lên một xưởng gốm ở Tân Phước Khánh, học việc không lương, cuối tuần về chái nhỏ mới cất sau nhà, ngồi chuốt bên cái bàn xoay cũ. Anh Hai Trọng đóng cho nó một cái kệ gỗ dài dọc vách chái. Trên kệ đã có ba chục món. Có một cái bình cổ cao, men xanh ngọc rạn chân chim, mà cô giáo dạy mỹ thuật của nó coi xong thì hỏi nó có muốn thi vô trường mỹ thuật không. Nó nói nó còn đang nghĩ. Ba nó ngồi cạnh, nói cứ nghĩ cho kỹ, nghĩ xong rồi nói ba nghe.

Thằng Sóc đặt cái khay lên bàn trước mặt ông nội.

– Ông nội vẽ một con gà đi ông nội. Chén cho em bé.

– Em bé nào? – Út Khuê kêu lên. – Đã cưới đâu mà em bé!

– Thì chén để dành, – thằng Sóc nói tỉnh bơ. – Ông nội nói hồi trước, chừng nào có lò thì đốt.

Cả mấy mâm cười ầm lên.

Ông Tư cầm cây cọ bằng tay trái. Ông đưa cái chén sát mặt, sát tới mức chóp mũi chạm men. Rồi ông vẽ. Cái lưng ra một nét cong méo. Cái ức phình ra như cái bụng. Cái mào ba răng cưa thì một răng to, hai răng nhỏ. Cái đuôi ba cọng thì cọng giữa chĩa thẳng lên trời. Con gà trên cái chén nhìn giống một con vịt đang giận.

Bà Bảy Xiêm cười trước. Rồi bà Tư. Rồi cả nhà, cả ông Sáu Vạn, cười tới chảy nước mắt. Ông Tư không thấy con gà mình vẽ, nhưng ông nghe tiếng cười, và ông cũng cười.

– Tay trái mà, – ông nói. – Tám mươi tuổi mới tập vẽ. Cho tui thêm mười năm.

Ông đưa cây cọ ra, chìa về phía bên phải.

– Hai. Chấm con mắt.

Anh Hai Trọng ngồi bên phải ba. Anh cầm cây cọ. Anh chưa cầm cọ vẽ men từ năm hai mươi hai tuổi. Tay anh run. Anh chấm cây cọ vô lọ men đen, đưa lên cái chén, nhìn con gà méo mó của ba. Anh nín thở. Rồi anh chấm xuống một cái. Một chấm đen tròn, hơi lệch, nằm trên cái đầu con gà.

Con gà mở mắt.

Chiều hôm đó, khi khách đã về gần hết, anh Hai Trọng đi ra góc vườn, tới gốc cây măng cụt cổ. Anh leo lên, chậm, trầy đầu gối như lần trước. Lên tới cái chạc lớn, anh ngồi xuống, lấy con dao nhíp ra.

Chữ K của ba. Chữ T của anh. Chữ L của con Ba. Và cái vết khắc dở. Một nét sổ thẳng, một nét xiên lên, dừng lại giữa chừng.

Anh đặt mũi dao lên chỗ nét xiên đã dang dở từ ba mươi năm trước. Anh khắc nốt. Nét xiên lên. Rồi nét xiên xuống. Vỏ cây cứng như sừng, anh phải ấn mạnh, mồ hôi chảy xuống mắt. Khắc xong, anh ngồi nhìn chữ K mới, nét còn trắng tươi bên cạnh những nét đã thành sẹo.

Từ trên cây nhìn xuống, anh thấy cái cổng gạch lò, thấy cái nóc nhà ba gian, thấy khoảng đất trống phẳng lì ở chỗ cái lò rồng từng nằm, giờ đã cắm cọc mốc sơn đỏ. Anh thấy thằng Sóc đang dọn khay men trong chái, thấy chị Thơ ngồi bên máy may, thấy má đang ngồi cạnh ba trên hiên, hai ông bà quay mặt ra vườn.

Ở dưới gốc, Út Khuê ngẩng đầu lên, áo dài hồng còn chưa thay.

– Anh Hai! Anh làm gì trên đó vậy?

– Khắc chữ cho em, – anh nói.

Út Khuê đứng im dưới gốc. Rồi cô hiểu. Cô không nói gì. Cô chỉ đứng đó, ngước lên nhìn anh, cho tới khi trời chạng vạng, và ở đâu đó bên kia rạch, một con gà gáy sai giờ.

— Hết —

Mục lục Mẻ lò cuối ở vườn măng cụt Lái Thiêu

  1. 1Đám giỗ ông cố10 phút
  2. 2Năm trăm triệu9 phút đọc
  3. 3Gỏi măng cụt10 phút đọc
  4. 4Cây sào hái trái9 phút đọc
  5. 5Mùa hái10 phút đọc
  6. 6Cái mõ tre9 phút đọc
  7. 7Xe khách lên Lộc Ninh9 phút đọc
  8. 8Đêm hai mươi tháng Mười Một10 phút đọc
  9. 9Con gà nhắm mắt9 phút đọc
  10. 10Bà Tư phát trực tiếp10 phút đọc
  11. 11Tiền học thêm9 phút đọc
  12. 12Trong bụng lò9 phút đọc
  13. 13Sửa lò9 phút đọc
  14. 14Thằng Bi về ngoại9 phút đọc
  15. 15Một tỷ hai9 phút đọc
  16. 16Phần có cái lò9 phút đọc
  17. 17Củi cao su9 phút đọc
  18. 18Ba ngày ba đêm9 phút đọc
  19. 19Ra lò10 phút đọc
  20. 20Tám mươi tuổi11 phút đọc

Về truyện này

Mẻ lò cuối ở vườn măng cụt Lái Thiêu là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Khánh của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →