AI Truyện
Ma đầu nung vôi bên sông Rạng

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn

Hai người bên miệng lò

Ma đầu nung vôi bên sông Rạng · Chương 9/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 9: Hai người bên miệng lò

– Ngươi đánh nó ở đâu?

Văn Khải Chính hỏi câu ấy khi đã ngồi xuống khúc gỗ đối diện, bên kia cửa lò. Ông không chào, không rút kiếm. Ông chỉ đặt viên ngọc đen lên mặt đất giữa hai người, đốm lửa trong ngọc lập lòe theo nhịp lửa trong Lò Cả.

Đêm mùng tám tháng Tư. Lò Cả đốt mẻ thứ ba của năm từ hôm qua, khói trắng đã chuyển sang mỏng. Ánh lửa đỏ hắt ra từ cửa gió, in hai cái bóng lên bãi đá. Phía bên kia thân lò, khuất gió, con bé Ấm ngủ trong ổ rơm. Ông Nhẫm đã vào nhà từ chập tối, nhưng đèn trong nhà vẫn chưa tắt.

– Sau lưng. – Tạ Uyên nói. – Giữa hai bả vai.

Khải Chính không động đậy. Cái chén trà ông mang theo nằm trong tay phải, xoay một vòng, rồi dừng.

– Nó quay lưng lại với ngươi?

– Anh ta không đánh tôi. – Tạ Uyên nhìn vào lửa, không nhìn ông. – Lúc ấy tôi đã giết xong mười một người áo lam. Anh ta mặc áo nâu, chạy qua quảng trường, không chạy về phía tôi. Anh ta chạy về phía trụ đá giữa sân đình. Tôi tưởng anh ta tới đó để tiếp sức cho trận. Tôi phóng lửa vào lưng anh ta lúc anh ta vừa tới chân trụ.

Tiếng lửa reo trong lò. Một cục than nổ lách tách.

– Nó chạy về trụ đá để giữ trận. – Khải Chính nói. Giọng ông bình thường, nhưng nói nhanh hơn mọi khi, như một câu đã thuộc lòng. – Nó là người nằm vùng ở Bến Mây, nó biết đường tắt. Trận lúc ấy đang lung lay, nó tới để giữ cho trận đứng.

– Tôi cũng tưởng thế. – Tạ Uyên nói.

Hai người im một lúc lâu. Tạ Uyên không nói thêm. Hắn không nói lúc ngã xuống, người áo nâu kia gọi tên vợ. Hắn không biết vì sao mình giữ lại câu ấy. Có lẽ vì nó không phải của hắn để đem ra.

– Ngươi biết nó là con của Thạc từ khi nào?

– Từ Thanh minh. Tôi lau cái khóa.

– Thế mà ngươi không đi.

– Có đi. Ra tới bến thì nó lên cơn. Lần ấy nặng nhất. Ông Nhẫm chạy ra gọi.

– Mẹ nó là ai?

Tạ Uyên kể lại những gì chị Ngát kể ở quán nước. Cái Sen người Khe Vôi, mười chín tuổi xuống Bến Mây bán hàng nước ở bến. Lấy một người tự xưng là đi buôn, tên Thạc. Đêm Bến Mây, cái Sen sống. Tháng sau về làng, bụng đã có con. Đẻ con bé được ba năm thì chết.

– Thằng Thạc chưa bao giờ báo về tông là nó có vợ. – Khải Chính nói, như nói với cái chén trà. – Một năm nằm vùng ở Bến Mây, tháng nào nó cũng gửi chim giấy về. Toàn chuyện thuyền bè, chuyện người lạ qua bến. Không một chữ nào về một người đàn bà bán nước.

– Có lẽ anh ta sợ tông môn không cho.

– Có lẽ nó sợ ta không cho. – Ông nói. – Người ấy chết vì bệnh gì?

– Chị Ngát bảo từ hôm ở Bến Mây về, da cô ấy có những mảng trắng. Khô, bong ra như vôi tường. Mỗi năm một lan. Làng tưởng bệnh vôi.

Cái chén trà trong tay Khải Chính dừng lại giữa chừng một vòng xoay. Chút trà nguội còn dưới đáy sánh ra, chảy xuống mu bàn tay ông. Ông không lau.

– Ba năm thì mất. – Tạ Uyên nói nốt.

Lửa trong lò reo. Một lúc lâu sau, Khải Chính mới nói, giọng thấp:

– Người chết ở Bến Mây đêm ấy đều có da như thế.

– Tôi biết. – Tạ Uyên nói. – Tôi thấy họ, lúc chạy ra bến.

Hai người nhìn nhau qua cửa lò. Không ai nói câu tiếp theo. Câu tiếp theo nằm ở đó, giữa hai người, như một hòn than không ai muốn cầm lên.

Khải Chính đặt cái chén trà xuống đất, cạnh viên ngọc.

– Ta sẽ đưa nó về núi Gương.

– Ông đưa về thì nó chết trước Tết.

Khải Chính ngẩng lên. Lần đầu tiên trong đêm, mắt ông có lửa.

– Ngươi nói gì?

– Ông biết tôi nói gì. – Tạ Uyên nói, giọng đều đều. – Huyền Giám tu Tĩnh Thủy Quyết. Khí của các ông là khí nước, đi tới đâu mát tới đó. Ông đem Tĩnh Thủy Quyết dạy cho một đứa trẻ thường thì tốt. Đem dạy cho một đứa có Hàn Tuyền căn mà chưa dẫn được khí một vòng thì khác gì đổ nước giếng lên tảng băng. Nó tập ba hơi là đông cứng. Tháng Giêng tôi gặp nó, mùa rét nào nó cũng suýt chết. Bây giờ nó thở được năm mươi hơi, mỗi lần thở tôi phải ngồi sau lưng giữ ấm cho nó. Ở núi Gương có ai có lửa ngồi sau lưng nó không?

Khải Chính không trả lời. Ông đứng dậy, đi vòng qua thân lò, tới chỗ ổ rơm. Tạ Uyên không ngăn. Ông già cúi xuống, đưa một bàn tay ra, không chạm vào con bé, chỉ để cách lưng nó một tấc. Ông đứng như thế khá lâu. Dưới tay ông, hơi lạnh từ đứa bé tỏa lên, nhưng giữa hai bả vai nó còn vương một sợi ấm rất mảnh, như sợi chỉ đỏ luồn qua tấm vải trắng. Sợi ấm ấy chạy dọc sống lưng, dẫn đường cho luồng khí lạnh đi xuống dưới rốn, đọng lại ở đó, không tràn ra. Ông là người tu thủy cả đời. Ông biết đó là gì, và biết người đặt nó vào phải khéo tới mức nào.

Lửa Phệ Hỏa. Thứ lửa đã đốt chết con trai ông. Đang giữ ấm cho cháu gái ông.

Ông quay lại, ngồi xuống khúc gỗ. Ông cầm cái chén trà lên, xoay. Lâu lắm.

– Bao lâu thì nó dẫn được khí một vòng?

– Hai, ba tháng. Nếu không có gì xảy ra thì trước rằm tháng Bảy.

– Rồi sao?

– Rồi khí nó có đường mà đi, như nước có mương. Lúc ấy thì tông môn nào dạy nó cũng được. Huyền Giám cũng được.

– Còn ngươi?

Tạ Uyên nhìn ông.

– Lúc ấy tôi theo ông về núi Gương. Không chống.

Khải Chính cười, một tiếng cười ngắn, khô như tiếng cành củi gãy.

– Tàn Đăng ma đầu. Giết bốn trăm tu sĩ trong tám mươi năm. Đứng ở Hẻm Quạ đánh nhau với hai mươi bốn người của ta suốt một đêm. Giờ ngồi đây hứa theo ta về chịu chết, không chống. Ngươi tưởng ta tin?

– Ông không cần tin. – Tạ Uyên nói. – Ông là Chấp pháp trưởng lão. Ông có cách giữ tôi.

Hắn duỗi tay trái ra, ngửa cổ tay lên. Dưới ánh lửa, vệt đen trên cánh tay hắn trông như vết bỏng cũ. Khải Chính nhìn nó một lúc, rồi nhìn kỹ hơn. Ông nhíu mày.

– Hỏa độc của ngươi lùi.

– Một chút.

– Ngươi ăn ai?

– Không ai. – Tạ Uyên nói. – Ba tháng nay không ai.

Khải Chính im lặng. Ông đã đuổi theo kẻ này bảy năm, đã đọc mọi hồ sơ về Phệ Hỏa Quyết mà Chấp pháp đường thu được. Hồ sơ nào cũng viết: hỏa độc chỉ tiến, không lùi. Kẻ tu Phệ Hỏa chỉ có thể làm chậm nó lại bằng cách ăn thêm. Không có dòng nào viết nó lùi.

Ông không hỏi thêm. Ông đặt hai ngón tay lên cổ tay trái của Tạ Uyên, ngay chỗ mạch đập. Từ đầu ngón tay ông, một luồng khí mát như nước suối chảy ra, quấn quanh cổ tay hắn một vòng, rồi một vòng nữa, rồi chìm xuống dưới da. Trên da hắn hiện ra một vòng xanh lam mảnh như sợi chỉ, như vết dây buộc.

– Thủy ấn. – Khải Chính nói. – Ngươi đi khỏi làng này quá mười dặm, nó đông lại, kinh mạch tay ngươi đông theo. Ngươi dùng sức quá Trúc Cơ, nó cũng đông, và ta biết. Ngươi rút của con bé một sợi khí, một sợi thôi, ta biết, và nó đông cả tim ngươi.

– Được.

– Tới rằm tháng Bảy.

– Tới khi nó dẫn được khí một vòng. – Tạ Uyên nói. – Nếu rằm tháng Bảy chưa được, ông đợi thêm.

Khải Chính nhìn hắn rất lâu. Rồi ông gật đầu, một cái, như đóng một con dấu.

Ông đứng dậy, nhặt viên ngọc đen lên, cất vào ngực áo. Ông đi được mấy bước thì dừng lại, không quay đầu.

– Lúc nó ngã. – Ông nói. – Nó có nói gì không?

Tạ Uyên nhìn lưng ông già. Ngọn lửa trong lò reo lên, hắt ánh đỏ lên vạt áo lam bạc màu vì bụi vôi.

– Có. – Hắn nói. – Anh ta gọi tên vợ.

Vai Khải Chính chùng xuống, một chút, rồi lại thẳng lên. Ông đi tiếp, không nói gì nữa, bước qua bãi đá trắng, về phía đầu làng.

Ông về tới nhà trưởng làng Ẩn lúc canh ba. Ông Ẩn đã dọn cho hai thầy trò gian nhà ngang, chiếu mới, chăn mới, ấm trà sen. Ninh Thục chưa ngủ. Con bé ngồi bên ngọn đèn dầu, kiếm đặt ngang đùi, mắt đỏ vì thức.

– Sư bá. Sao rồi ạ?

Khải Chính kể cho nó nghe. Không kể hết. Kể rằng Tàn Đăng ở đây, kim đan nứt, đã bị ông đặt Thủy ấn. Rằng có một đứa bé có Hàn Tuyền căn đang cần hắn dẫn khí. Rằng ông cho hắn ba tháng.

Ninh Thục nghe xong, đặt kiếm xuống chiếu, quỳ thẳng lưng trước mặt ông.

– Sư bá. Đệ tử không dám cãi. Nhưng phép Chấp pháp đường là phép do chính sư bá viết. Gặp ma đầu đã có bố cáo, phải báo tông ngay trong ngày. Không được cho ma đầu ở cạnh phàm nhân. Không được thỏa thuận với ma đầu. Ba điều ấy sư bá phạm cả ba.

– Ta biết.

– Đứa bé ấy là gì của sư bá?

Khải Chính nhìn con bé. Nó mười chín tuổi, ngay thẳng, chưa từng thấy Bến Mây. Nó vào tông ba năm sau Bến Mây, chỉ biết Bến Mây qua bố cáo và bài giảng.

– Là cháu nội ta.

Ninh Thục há miệng, rồi ngậm lại.

– Ta chịu trách nhiệm. – Khải Chính nói. – Đi ngủ đi.

Ông nằm xuống, quay mặt vào vách. Ông không ngủ. Ông nghe tiếng Ninh Thục trở mình rất lâu trên chiếu. Rồi tiếng con bé ngồi dậy, rón rén. Tiếng giấy sột soạt. Ông biết con bé đang làm gì, và ông nằm im.

Ngoài sân nhà trưởng làng, dưới trăng mùng tám nghiêng về phía tây, một con chim giấy trắng gấp bằng giấy dó vỗ cánh hai cái, bay lên khỏi mái ngói, chao một vòng trên những mái nhà trắng vôi, rồi lao thẳng về phía bắc, về phía núi Gương.

— Hết chương 9 —

Mục lục Ma đầu nung vôi bên sông Rạng

  1. 1Đứa bé gõ cửa lò nguội9 phút
  2. 2Vôi sống uống nước12 phút đọc
  3. 3Tro thì đừng ăn10 phút đọc
  4. 4Gã bán kim chỉ9 phút đọc
  5. 5Phiên chợ mùng Mười10 phút đọc
  6. 6Thở như uống nước giếng10 phút đọc
  7. 7Cái gương nhỏ trong khóa bạc9 phút đọc
  8. 8Người đi theo viên ngọc đen10 phút đọc
  9. 9Hai người bên miệng lò9 phút đọc
  10. 10Đình làng Khe Vôi9 phút đọc
  11. 11Lửa một bên, nước một bên9 phút đọc
  12. 12Mẻ lò cuối của ông Nhẫm10 phút đọc
  13. 13Bến Mây bảy năm sau9 phút đọc
  14. 14Mũi kiếm trong trụ đá10 phút đọc
  15. 15Tấm gương nước trên mui thuyền10 phút đọc
  16. 16Ba ngày của sư đệ10 phút đọc
  17. 17Hai trăm bốn mươi người gánh vôi10 phút đọc
  18. 18Đá không chịu thì đừng ép lửa9 phút đọc
  19. 19Mũi kiếm thứ hai9 phút đọc
  20. 20Vôi tôi để xây10 phút đọc

Về truyện này

Ma đầu nung vôi bên sông Rạng là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →