AI Truyện
Ma đầu nung vôi bên sông Rạng

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn

Hai trăm bốn mươi người gánh vôi

Ma đầu nung vôi bên sông Rạng · Chương 17/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 17: Hai trăm bốn mươi người gánh vôi

Chị Ngát nhìn thấy những ngọn cờ sáng lên từ cửa lán Lò Cả, và chị biết mình có nửa canh giờ.

Cô Ninh Thục đứng cạnh chị, mặt trắng bệch dưới ánh lam hắt từ ba ngọn cờ trên miệng ba lò vôi gần nhất. Cô ta nói một chữ, khẽ như hơi thở:

– Thắp.

Sau lưng hai người, trong lán, con bé Ấm đang ngồi xếp bằng trên chõng, mắt nhắm, dẫn khí. Thằng Bõ ngồi cạnh nó, cầm cái quạt nan quạt muỗi. Chị Ngát quay vào, cúi xuống, nắm vai thằng Bõ.

– Ngồi yên đây với em. Đóng cửa liếp lại. Ai gọi cũng không mở, trừ mẹ. Nghe chưa?

– Mẹ đi đâu?

– Đi rắc vôi.

Chị không đợi nó hỏi thêm. Chị kéo cửa liếp, chạy ra bãi đá. Cô Ninh Thục chạy theo.

Trên đầu cả làng Khe Vôi, trời không còn là trời. Những sợi lam mảnh như tơ nhện giăng chằng chịt từ ngọn cờ này sang ngọn cờ kia, đan thành một tấm lưới rộng bằng cả làng, mắt lưới to bằng cái nong. Thường ngày người phàm không thấy được những thứ ấy, nhưng trận thắp lên thì sợi nào cũng sáng lam như tơ nhện dính sương. Chị thấy ánh lam phủ lên mọi mái nhà, thấy những tàu lá chuối bên đường đang quăn mép lại như bị hơ lửa. Và chị thấy khát. Khát từ cổ họng khát xuống, như cả ngày đứng nắng không uống ngụm nước nào. Môi chị khô, da tay chị khô, nhăn lại như da người già.

Từ đầu làng, tiếng trống đình nổi lên. Ba hồi, dồn dập. Hiệu đã hẹn.

Chuyện bắt đầu từ trưa hai mươi hai, khi chị đưa cơm ở đình về. Chị không nói với ai trước, chị đi thẳng lên nhà ông trưởng làng Ẩn. Ông Ẩn ngồi nghe chị nói, mặt tái dần, râu dê run run. Ông là người cẩn thận, sợ phiền, cả đời chưa làm điều gì trái ý quan trên. Nghe xong, ông ngồi im rất lâu. Rồi ông đứng dậy, đi ra cột đình, lấy cái chìa kho xuống.

– Ông Nhẫm để mẻ vôi ấy cho mùa lũ. – Ông nói. – Đây cũng là lũ.

Cô Ninh Thục vẽ cho họ chỗ từng ngọn cờ bằng một que than trên nền đất: mái đình, mái kho, ba cây gạo đầu làng, mỏm đá chân núi, miệng ba lò vôi, bờ rào nhà ông Hựu, cái cầu ao, bến nước. Mười hai chỗ. Đêm ấy và cả buổi sớm hôm sau, đàn ông các lò lặng lẽ khiêng chum vôi từ kho ra, mỗi chỗ ba chum, giấu trong bụi chuối, sau đống củi, dưới mái hiên. Không đuốc, không ai nói to. Đệ tử giữ cờ trên mái kho ngồi tận nóc, quay mặt ra sông. Chum vẫn trát kín miệng. Ông Ẩn đếm từng chum.

Bây giờ trống đánh.

Chị Ngát chạy tới ngọn cờ trên miệng Lò Năm, lò gần nhất. Ba người đàn ông nhà lò ấy đã ở đó, đang dùng búa đập vỡ miệng chum. Đất sét trát miệng vỡ ra, vôi cục trắng xám đổ tràn xuống bãi đá.

– Tay khô! – Chị hét. – Lau tay vào áo!

Họ lau. Họ bốc vôi cục, ném lên miệng lò, rắc quanh chân lò, rắc thành vòng tròn dày quanh nơi cán cờ cắm. Chị cũng bốc. Cục vôi trong tay chị nóng lên ngay khi chạm da, chị biết vì tay chị đang khô mà nó vẫn tìm được chút ẩm còn sót. Chị ném nó đi.

Và chị thấy một điều mà cả đời chị không quên được.

Những sợi lam chạy xuống ngọn cờ, ở chỗ đi sát qua vòng vôi, bắt đầu bốc hơi. Không phải hơi lam. Hơi trắng. Xì xì như nước tạt vào vôi trong hố tôi. Vôi trên bãi đá sôi lên, nổ lụp bụp, khói trắng cuồn cuộn. Sợi lam ở đó mỏng đi, mỏng nữa, rồi đứt phựt như sợi chỉ bị lửa cắt. Một sợi. Hai sợi. Ngọn cờ trên miệng Lò Năm chao đi, ánh lam trên nó tối lại một nửa.

– Nó uống! – Một người đàn ông hét lên, giọng như reo. – Vôi nó uống được!

– Đừng đứng đấy! Sang cờ khác!

Khắp làng Khe Vôi lúc ấy là người chạy. Đàn ông vác búa, đàn bà ôm vôi trong vạt áo, mấy ông già khiêng chum bằng đòn càn, vừa khiêng vừa thở dốc. Ông trưởng làng Ẩn đứng giữa đường, khăn xếp rơi đâu mất, tóc bạc xổ ra, cầm cái thanh la gõ loạn xạ, gào tên từng nhà: nhà Hựu ra cầu ao, nhà Khoái ra cây gạo, Lò Bảy ra bến. Mấy đứa trẻ con lớn chạy theo người lớn, bốc vôi bằng hai tay khô, rắc dọc đường nối giữa các ngọn cờ như rắc thóc cho gà.

Khói trắng bốc lên từ khắp nơi, trắng cả làng. Mùi vôi tôi nồng, hăng, sặc sụa.

Cô Ninh Thục chạy từ ngọn cờ này sang ngọn cờ khác, chỉ chỗ sợi lưới dày nhất, chỗ phải rắc thêm. Ở ngọn cờ trên mái đình, cô ta chạm mặt bốn đệ tử Huyền Giám đang được Kiều Lãm sai tới đuổi dân làng.

– Tránh ra! – Một đệ tử quát, rút kiếm. – Phá trận tông môn là tội chết!

Cô Ninh Thục đứng chắn giữa họ và mấy người đàn bà đang rắc vôi quanh chân tường đình. Cô ta không rút kiếm.

– Sư huynh khát không? – Cô hỏi.

Gã đệ tử khựng lại.

– Sư huynh liếm môi đi. – Cô nói, giọng vỡ ra. – Môi sư huynh nứt rồi kìa. Trận này rút nước của mọi thứ trong vòng cờ. Rút cả của sư huynh, của đệ tử, của người làng. Bến Mây không phải ma đầu hút cạn! Là trận này! Ba trăm mười hai người da trắng như vôi là vì trận này! Sư bá Khải Chính đã nhận rồi! Sư huynh đứng giữ cờ thêm nửa canh giờ nữa, cái làng này sẽ thành Bến Mây thứ hai, mà sư huynh là người giữ cờ!

Bốn gã đệ tử đứng nhìn cô. Một gã đưa tay lên sờ môi mình. Gã rụt tay lại, nhìn đầu ngón, như thấy một thứ gì lạ.

Không ai trong bốn người tiến lên nữa.

Chị Ngát chạy qua chỗ ấy, ôm một vạt áo đầy vôi. Chị thấy một ông già nằm sóng soài bên bờ rào nhà ông Hựu. Ông Lụa, người bán cau đầu làng, gần tám mươi. Chị quỳ xuống, đỡ đầu ông. Da mặt ông khô, nứt như ruộng hạn. Ông còn thở. Chị gọi hai người đàn ông khiêng ông ra bãi sau Lò Năm, chỗ xa cái bàn đá đầu làng nhất. Cô Ninh Thục đã dặn: người ngã thì đưa xa trận nhãn, càng xa càng đỡ bị rút.

Ngọn cờ ở bến nước khó nhất. Cán cờ cắm ngay mép nước, chỗ con thuyền đá vẫn cập, và sợi lưới ở đó dày gấp đôi chỗ khác, vì nó rút thẳng từ sông lên. Người Lò Bảy đổ vôi quanh chân cờ, vôi vừa chạm bùn ướt đã sôi sùng sục, khói trắng trùm kín cả bến, mà sợi lưới vẫn không đứt. Chị Ngát chạy tới, thấy thế, hét lên một câu mà chính chị cũng không biết từ đâu ra:

– Đổ cả chum xuống nước! Quanh cán cờ!

Họ khiêng nguyên chum vôi, đập vỡ, đổ ụp xuống nước nông quanh cán cờ. Mặt sông chỗ ấy sôi lên như nồi nước trên bếp, hơi nóng hắt vào mặt rát như lò. Người đứng gần phải lùi lại ba bước. Một lúc sau, sợi lưới ở bến không còn rút được từ sông nữa: chỗ nước quanh cán cờ đã thành một vũng vôi đặc quánh, trắng đục, nóng bỏng. Ngọn cờ ở bến tối đi.

Ngọn cờ trên mái kho chung thì cao nhất. Không ai ném vôi lên tới nóc. Ông trưởng làng Ẩn tự vác cái thang tre dựng vào hiên kho, trèo lên, một tay ôm cái thúng vôi, một tay bám rui mè. Người dưới đất gọi ông xuống, ông không xuống. Ông bò dọc nóc ngói tới chân cán cờ, đổ cả thúng vôi quanh chỗ cán cờ cắm vào kèo, vôi chảy xuống các khe ngói, xì xì bốc khói. Ngọn cờ trên mái kho chao đi rồi tối lại. Lúc trèo xuống, ông hụt chân ở bậc thang thứ ba, rơi đánh huỵch xuống sân, ôm cánh tay trái kêu lên một tiếng. Hai người chạy tới đỡ. Ông gạt ra, ngồi dậy, tay phải vẫn nắm cái thanh la.

– Gãy rồi. Kệ nó. – Ông nói, mặt trắng bệch. – Đi! Sang cờ khác!

Gần nửa canh giờ. Chị đếm trong đầu. Không biết đúng không, nhưng chị đếm.

Sáu ngọn cờ đã có vòng vôi. Rồi bảy. Rồi tám. Tấm lưới lam trên đầu làng không còn kín nữa. Chỗ nào gần ngọn cờ bị vôi uống thì lưới chùng xuống, rách thủng từng mảng, mắt lưới to bằng cả cái sân. Chị thấy cổ họng mình bớt khát một chút.

Nhưng ở bãi đá đầu làng, trên cái bàn đá, trận bàn của Kiều Lãm vẫn sáng chói. Hắn đứng đó, hai tay đặt lên trận bàn, áo lam bay phần phật dù không có gió. Hắn không chạy đi đâu, không quát ai. Hắn chỉ dồn sức. Mỗi lần một ngọn cờ tối đi, đốm sáng giữa trận bàn lại sáng thêm một nấc, và những sợi lưới còn lại lại căng thêm. Lưới không rách được thêm nữa, mà thít lại.

– Hắn rút từ trận nhãn. – Cô Ninh Thục nói, thở dốc, khi chị gặp lại cô ta ở bến. Môi cô ta cũng nứt. – Cờ yếu thì hắn dồn vào trận nhãn. Phải phá bàn đá. Mà không ai tới gần được. Sư huynh Kiều đứng đó.

– Ông tiên ông đâu?

– Trên thuyền lớn. Bị hai người canh. Em không biết.

Chị Ngát nhìn ra sông. Chiếc thuyền lớn neo giữa dòng, đèn lồng lam trên mũi. Không thấy ai động đậy.

Cô Ninh Thục nhìn về phía đình một lúc lâu, rồi quay người chạy lên con đường làng, không nói gì. Chị chạy theo.

Tới gần cổng đình thì chị nghe tiếng gọi từ phía cuối làng. Một tiếng trẻ con, khản đặc, gọi mẹ.

Chị quay lại. Thằng Bõ chạy trên con đường làng trắng khói vôi, chân đất, ngã, bò dậy, chạy tiếp. Mặt nó lấm lem, môi nó chảy máu. Chị chạy tới, quỳ xuống, ôm lấy nó.

– Em đâu? Em Ấm đâu?

– Ông tay đen. – Thằng Bõ nói, nấc lên. – Ông ấy phá cửa liếp. Con lấy quạt đánh, ông ấy hất con ngã. Ông ấy bế em đi. Em kêu chú Tư.

– Đi đâu?

Thằng Bõ chỉ tay về phía cuối làng.

Chị Ngát nhìn theo tay nó. Ở cuối làng, nơi đã nguội lạnh suốt từ ngày ông Nhẫm mất, Lò Cả đang đỏ rực. Lửa phun lên khỏi miệng lò thành một cột cao gấp ba lần thân lò. Không phải lửa vàng của củi. Đỏ đục, đỏ sẫm, như than ủ dưới tro.

Và ngay sau lưng chị, ở gian giữa đình, có tiếng sắt rơi xuống nền gạch.

Chị quay đầu. Cô Ninh Thục đứng trong cửa đình, tay cầm một chùm chìa đồng nhặt từ thắt lưng một gã đệ tử canh đã ngã khụy vì khát. Dưới chân cô, hai cái vòng đồng khắc phù nằm lăn lóc, sợi xích mảnh còn rung.

Tạ Uyên đã ra khỏi đình. Chị chỉ kịp thấy lưng hắn, áo nâu, chân đất, chạy về phía Lò Cả, nhanh hơn bất cứ người nào chị từng thấy chạy.

— Hết chương 17 —

Mục lục Ma đầu nung vôi bên sông Rạng

  1. 1Đứa bé gõ cửa lò nguội9 phút
  2. 2Vôi sống uống nước12 phút đọc
  3. 3Tro thì đừng ăn10 phút đọc
  4. 4Gã bán kim chỉ9 phút đọc
  5. 5Phiên chợ mùng Mười10 phút đọc
  6. 6Thở như uống nước giếng10 phút đọc
  7. 7Cái gương nhỏ trong khóa bạc9 phút đọc
  8. 8Người đi theo viên ngọc đen10 phút đọc
  9. 9Hai người bên miệng lò9 phút đọc
  10. 10Đình làng Khe Vôi9 phút đọc
  11. 11Lửa một bên, nước một bên9 phút đọc
  12. 12Mẻ lò cuối của ông Nhẫm10 phút đọc
  13. 13Bến Mây bảy năm sau9 phút đọc
  14. 14Mũi kiếm trong trụ đá10 phút đọc
  15. 15Tấm gương nước trên mui thuyền10 phút đọc
  16. 16Ba ngày của sư đệ10 phút đọc
  17. 17Hai trăm bốn mươi người gánh vôi10 phút đọc
  18. 18Đá không chịu thì đừng ép lửa9 phút đọc
  19. 19Mũi kiếm thứ hai9 phút đọc
  20. 20Vôi tôi để xây10 phút đọc

Về truyện này

Ma đầu nung vôi bên sông Rạng là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →