AI Truyện
Ma đầu nung vôi bên sông Rạng

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn

Lửa một bên, nước một bên

Ma đầu nung vôi bên sông Rạng · Chương 11/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 11: Lửa một bên, nước một bên

Chị Ngát bế con bé chạy xuống Lò Cả. Chị không nghĩ. Chân chị tự chạy, như đã chạy con đường ấy hàng trăm lần. Thằng Bõ cầm đèn chạy theo sau, đèn chao, mưa phùn tạt vào mặt.

Lò Cả không đỏ lửa, mẻ thứ ba đã ra lò từ chiều hôm qua. Nhưng thân lò còn ấm, và cửa lán sau lò mở toang. Tạ Uyên đứng ở cửa lán, như đã đứng đó chờ.

– Đặt nó xuống ổ rơm. – Hắn nói. – Nhanh.

Chị đặt xuống. Hắn quỳ, luồn tay dưới lưng con bé. Chị nhìn mặt hắn trong ánh đèn của thằng Bõ, và chị thấy hắn tái đi ngay khi bàn tay chạm vào lưng nó.

– Làm sao?

Hắn không trả lời. Mồ hôi đã lấm tấm trên trán hắn dù đêm mưa lạnh. Một lúc sau hắn mới nói, như nói với chính mình:

– Đóng tới tim rồi. Lửa Trúc Cơ không đủ.

– Thế thì dùng lửa to hơn!

– Ấn trên tay tôi. – Hắn nói, giơ cổ tay trái lên. Vòng lam trên cổ tay hắn đã sáng lên mờ mờ, như sợi chỉ phát quang. – Dùng quá sức Trúc Cơ thì nó đông. Đông thì tay tôi chết, lửa cũng tắt.

Chị Ngát đứng nhìn hắn. Rồi chị quay sang thằng Bõ:

– Chạy lên nhà ông trưởng làng. Gọi ông tiên ông.

Không cần gọi. Văn Khải Chính đã đứng ở mép bãi đá, áo lam ướt mưa, cô đệ tử Ninh Thục cầm đèn đi sau. Ông đã cảm thấy Thủy ấn động từ lúc nó mới sáng lên.

Ông đi tới, nhìn đứa bé trong ổ rơm, nhìn Tạ Uyên. Chị Ngát thấy hai người đàn ông nhìn nhau chỉ một nhịp, không ai nói gì.

– Gỡ ấn cho tôi. – Tạ Uyên nói. – Hoặc ông giúp.

Khải Chính quỳ xuống phía bên kia ổ rơm, đối diện hắn. Ông đặt hai ngón tay lên cổ tay con bé, nhắm mắt. Rồi ông mở mắt.

– Không cần thêm lửa. Khí nó không có đường, dồn lại một chỗ. – Ông nói. – Ngươi giữ ấm. Ta mở đường.

Chị Ngát không hiểu họ nói gì. Chị chỉ thấy họ làm.

Tạ Uyên giữ một tay dưới lưng con bé, một tay đặt lên bụng nó, dưới rốn. Khải Chính đặt bàn tay lên ngực nó, ngay chỗ tim, rồi rất chậm, kéo bàn tay ấy xuống, dọc theo bụng, như người ta vuốt nước trên mặt kính. Mỗi lần ông vuốt, chị thấy hơi trắng bốc lên từ áo con bé. Mỗi lần ông vuốt, Tạ Uyên nghiến răng, mồ hôi chảy thành dòng xuống cằm.

Ninh Thục đặt cái đèn xuống bãi đá, đứng nhìn. Chị Ngát nghe cô ta lẩm bẩm: Tĩnh Thủy Dẫn Lưu. Sư bá đang khơi mạch cho nó.

Một khắc. Hai khắc. Mưa phùn tạnh. Gà gáy lần đầu ở đầu làng.

Ông Nhẫm ra từ lúc nào, đứng sau lưng chị, tay cầm lọ dầu gừng mà không mở. Ông già không ho. Cả bãi đá chỉ có tiếng thở của hai người đàn ông, một người thở ra thành khói trắng, một người thở ra thành hơi nóng.

Chị Ngát nhìn họ. Lửa một bên, nước một bên. Kẻ giết người và kẻ đi bắt kẻ giết người. Quỳ hai bên một đứa bé sáu tuổi, cùng đổ mồ hôi.

Lúc gà gáy lần thứ ba, con bé ho ra một tiếng, rồi thở. Lớp băng trên mi nó tan ra, chảy xuống má. Khải Chính rút tay về trước. Tạ Uyên vẫn giữ tay dưới lưng nó thêm một lúc, rồi mới rút.

– Nửa vòng. – Khải Chính nói, giọng khàn. – Khí nó đi được nửa vòng rồi. Đêm nay suýt chết, mà cũng nhờ đêm nay mở được nửa đường.

Tạ Uyên ngồi bệt xuống bãi đá, hai tay chống ra sau, thở. Hắn không nói gì.

Chị Ngát quỳ xuống, kéo chăn đắp cho con bé. Nó ngủ, mặt đã hồng lại. Bàn tay nó, ngay cả trong lúc ngủ, vẫn quờ quạng sang một bên, tìm, rồi nắm lấy vạt áo nâu của Tạ Uyên.

Chị nhìn bàn tay ấy rất lâu. Rồi chị đứng dậy.

– Từ mai nó ngủ ở đây. – Chị nói, không nhìn ai. – Tôi mang chăn ra. Tôi ngủ ở đây với nó.

Không ai cãi. Ông Nhẫm quay vào nhà, lúc đi ngang chị, ông đưa cho chị lọ dầu gừng.

Từ hôm ấy, chị Ngát ngủ ở lán sau Lò Cả, trên cái chõng tre, con bé nằm cạnh chị. Tạ Uyên dọn ra nằm ở ổ rơm dưới chân lò, chỗ con bé vẫn nằm. Sáng nào hắn cũng ngồi tựa lưng con bé dẫn khí, chị ngồi ở chõng bên trong nhặt rau, nghe, nhìn. Chị không nói chuyện với hắn. Hắn cũng không nói chuyện với chị.

Mười bốn tháng Tư, Khải Chính bảo Ninh Thục rằng ông sẽ ở lại Khe Vôi tới khi con bé dẫn được khí trọn một vòng. Tối nào ông cũng xuống Lò Cả một lúc, đặt tay lên ngực con bé, khơi thêm một đoạn đường cho khí nó đi. Ông không nói chuyện với Tạ Uyên ngoài những câu cần nói.

Với con bé thì ông nói nhiều hơn. Một buổi chiều chị Ngát thấy ông ngồi trên thềm nhà ông Nhẫm, con bé ngồi cạnh. Ông múc một gáo nước giếng, nhón lên một giọt, và giọt nước ấy không rơi. Nó lơ lửng trên đầu ngón tay ông, dài ra, uốn mình, mọc vây, thành một con cá chép bé bằng hạt đỗ, bơi một vòng quanh cổ tay con bé. Con bé cười khanh khách, đưa tay ra bắt, con cá vỡ thành nước, mát rượi trên lòng bàn tay nó.

– Nữa! Ông làm nữa đi!

Ông làm nữa. Lần này hai con.

– Sao ông biết làm cá giống cái khóa của con?

– Ta học được từ lâu rồi.

Con bé nghiêng đầu nhìn ông, cái nhìn chăm chú của trẻ con khi nó sắp hỏi một câu khó.

– Cô Ngát bảo ông là ông của con. Có phải không?

Chị Ngát đứng ở góc sân, tay cầm rổ rau, thấy ông già áo lam ngồi lặng đi. Ông nhìn con bé rất lâu. Con cá nước thứ hai trên tay ông rơi xuống, vỡ trên bậc thềm.

– Đợi con dẫn được khí một vòng. – Ông nói. – Lúc ấy ta trả lời.

Con bé bĩu môi, nhưng không hỏi nữa. Nó tưởng đó là một cái giao kèo, như giao kèo ăn hết bát cơm thì được ra sông chơi. Chị Ngát thì biết ông già ấy chưa trả lời được, vì có một câu khác ông chưa trả lời được trước.

Đêm hai mươi tháng Tư, ông Nhẫm ngồi với Tạ Uyên bên cửa Lò Cả. Lò đang đốt mẻ thứ tư. Ông già rít thuốc lào, ho, lần này ho rất lâu. Khi dứt cơn, ông khạc xuống đất. Bãi đờm có vệt hồng.

– Tôi nói chuyện này một lần. – Ông nói. – Anh nghe thì nghe.

Hắn nghe.

– Thằng con tôi chết năm hai mươi tuổi. Tôi đã kể với anh là nó chết đuối. Tôi chưa kể vì sao nó chết đuối. – Ông già nhìn vào cửa lò. – Năm ấy lũ tháng Bảy về to. Nhà tôi nhận một mối vôi lớn của một ông phú hộ bên kia sông, xây tường bao. Ông ấy hẹn giao trước rằm, trễ một ngày trừ một nửa tiền. Hôm mười bốn nước đỏ ngầu, thuyền nào cũng gác sào. Tôi bảo thằng con chở. Nó bảo bố ơi nước to quá. Tôi bảo đàn ông con trai sợ nước thì về mà ru võng. Nó đi. Thuyền lật giữa dòng. Mười ngày sau người ta vớt nó lên ở trấn Rạng.

Lửa trong lò reo.

– Lò nào chả có người chết. – Ông Nhẫm nói. – Người ta bảo thế để mà sống tiếp. Tôi cũng bảo thế. Ba mươi năm tôi bảo thế. – Ông rít thuốc. – Anh giết mười hai người hay ba trăm người, tôi không biết. Tôi biết tôi giết một người, mà tôi chưa bao giờ đứng lên ở đình mà nhận như anh.

Tạ Uyên im lặng.

– Tôi không sống được qua mùa hè này đâu. – Ông già nói tiếp, giọng bình thản như nói chuyện mẻ vôi. – Phổi tôi giờ là hai cái hố tôi vôi rồi. Tháng Sáu tôi đốt Lò Cả mẻ cuối. Anh giữ cái lò này. Anh giữ con Ấm.

– Ba tháng nữa tôi về núi Gương chịu tội.

– Thì trong ba tháng ấy. – Ông Nhẫm nói. – Ba tháng là ba tháng. Anh muốn nhanh thì xuống trấn mà buôn.

Hắn nhìn ông già. Ông già nhìn lửa. Không ai cười.

Cùng đêm ấy, ở rất xa về phía tây, trong một cái hang đá ở Âm Diệm Cốc, nơi vách hang đen kịt như quét hắc ín, có một người đàn ông ngồi trên tấm da gấu, hai cánh tay để trần. Hai cánh tay đen từ đầu ngón tới quá khuỷu, đen bóng như sừng trâu. Mặt hắn trẻ, mặt người ba mươi lăm, mày rậm, môi đỏ, khi cười thì hai má lúm đồng tiền.

Gã Lư Sáu quỳ trước mặt hắn, đầu cúi sát đất. Gã đã quỳ đúng chỗ ấy một lần, cuối tháng Hai, khi mới từ sông Rạng về, run như cầy sấy, khai rằng Tạ sư bá chết rồi, xác trôi qua thác Trâu Chọi, cá rỉa hết, chỉ tìm được cái áo.

Hôm ấy Đồ Cửu không nói gì. Hắn chỉ nghiêng đầu, mỉm cười, chìa một bàn tay đen ra, đặt nhẹ lên ngực Lư Sáu, chỗ trái tim. Một lúc lâu sau, hắn rút tay về, cười thành tiếng, tiếng cười trong trẻo như tiếng trẻ con.

– Đứng dậy đi, Sáu. Mày không cần nói gì nữa đâu. – Hôm ấy hắn đã nói thế. – Trong tim mày có một cái nút hỏa chú, nóng hổi, thắt kiểu hai vòng ngược. Cả Âm Diệm Cốc chỉ có một người thắt được kiểu ấy. Người chết thì không thắt được nút nào.

Rồi hắn bắt tay vào nung một cái kim mới.

Đêm nay hắn đi ra cửa hang. Trên một phiến đá ở cửa hang, trong một cái bát nước, cái kim thép vừa nung đủ bốn mươi chín ngày đang nổi, mũi chĩa về phía đông.

– Còn chuyện này nữa. – Đồ Cửu nói, không quay lại. – Hôm qua có lão buôn thuốc ở trấn Rạng lên đây bán hàng, kể chuyện tháng Hai có một con bé đặt tay lên đá thử căn, đá đóng băng nứt đôi. Hàn Tuyền căn. Đi cùng một gã đàn ông tay đen. – Hắn cười, má lúm sâu. – Sư huynh ta lúc nào cũng có lộc.

Lư Sáu ngẩng lên, chờ lệnh lên đường. Đồ Cửu xua tay.

– Chưa đi. Tay ta đen quá khuỷu rồi, đánh nhau với sư huynh lúc này là đem củi đến cho lửa. Ta vào quan ba tháng, đè nó xuống đã. Sư huynh nứt đan, lại đang ôm một đứa trẻ, thì chạy không xa đâu.

— Hết chương 11 —

Mục lục Ma đầu nung vôi bên sông Rạng

  1. 1Đứa bé gõ cửa lò nguội9 phút
  2. 2Vôi sống uống nước12 phút đọc
  3. 3Tro thì đừng ăn10 phút đọc
  4. 4Gã bán kim chỉ9 phút đọc
  5. 5Phiên chợ mùng Mười10 phút đọc
  6. 6Thở như uống nước giếng10 phút đọc
  7. 7Cái gương nhỏ trong khóa bạc9 phút đọc
  8. 8Người đi theo viên ngọc đen10 phút đọc
  9. 9Hai người bên miệng lò9 phút đọc
  10. 10Đình làng Khe Vôi9 phút đọc
  11. 11Lửa một bên, nước một bên9 phút đọc
  12. 12Mẻ lò cuối của ông Nhẫm10 phút đọc
  13. 13Bến Mây bảy năm sau9 phút đọc
  14. 14Mũi kiếm trong trụ đá10 phút đọc
  15. 15Tấm gương nước trên mui thuyền10 phút đọc
  16. 16Ba ngày của sư đệ10 phút đọc
  17. 17Hai trăm bốn mươi người gánh vôi10 phút đọc
  18. 18Đá không chịu thì đừng ép lửa9 phút đọc
  19. 19Mũi kiếm thứ hai9 phút đọc
  20. 20Vôi tôi để xây10 phút đọc

Về truyện này

Ma đầu nung vôi bên sông Rạng là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →