AI Truyện
Ma đầu nung vôi bên sông Rạng

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn

Mẻ lò cuối của ông Nhẫm

Ma đầu nung vôi bên sông Rạng · Chương 12/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 12: Mẻ lò cuối của ông Nhẫm

– Lớp này mỏng thôi. Mỏng nữa. Mày bỏ than như bỏ muối vào nồi canh ấy, Tư ạ, bỏ thế thì mặn chết.

Ông Nhẫm ngồi trên miệng Lò Cả, hai chân thõng vào trong lòng lò, lưng dựa vào một cái cột tre người ta buộc tạm cho ông dựa. Ông không còn leo xuống được nữa. Ông chỉ ngồi đó, cúi nhìn xuống, chỉ tay, mắng. Tạ Uyên đứng dưới đáy lò, ngửa cổ lên nghe.

Hai mươi ba tháng Sáu, xếp mẻ cuối của ông Nhẫm.

Hai tháng qua đi nhanh như nước lũ. Tháng Năm nắng gắt, khói lò bốc lên thẳng tắp không gió bẻ. Ông Nhẫm gầy đi trông thấy, ngày ngồi ho ở cửa lò nhiều hơn đứng. Con bé Ấm sáng nào cũng ngồi tựa lưng hắn dẫn khí, tối nào cũng có ông Khải Chính xuống khơi thêm một đoạn đường. Khí của nó đi được nửa vòng, rồi hai phần ba, rồi ba phần tư, rồi cứ kẹt mãi ở một chỗ sau gáy, như nước mương gặp tảng đá. Vết nứt thứ hai trên kim đan của hắn được trám dần, mỗi đêm một hạt gạo. Vệt đen trên tay hắn lùi khỏi giữa cẳng tay, giờ chỉ còn tới trên cổ tay hai đốt ngón.

Chị Ngát vẫn ngủ ở lán. Có một buổi tối chị đưa cho hắn một bát chè xanh mà không nói gì. Có một buổi tối khác chị hỏi hắn: tay anh có đau không. Hắn nói không. Chị bảo: nói dối. Hắn không cãi.

Ninh Thục thì ít xuống Lò Cả. Giữa tháng Năm, một con chim giấy bay về sân nhà trưởng làng, đậu lên vai cô ta. Cô ta mở ra đọc, rồi gấp lại, cất vào ngực áo, không nói với ai. Từ hôm ấy, cô ta tránh nhìn sư bá mình.

Mẻ cuối này ông Nhẫm cho xếp to hơn mọi mẻ. Ông bảo năm nay mưa đầu mùa sớm, lũ tháng Bảy sẽ to. Lũ to thì đê vỡ, kè lở, nhà sập, làng trên làng dưới ai cũng cần vôi. Cả mẻ này không bán. Ra lò thì giữ nguyên vôi cục, đóng vào chum sành, trát kín miệng bằng đất sét, cất vào kho chung của làng, cái nhà nền cao kê đá ở cạnh đình.

– Vôi sống để lâu được không ông? – Ấm hỏi. Nó ngồi bên cạnh ông trên miệng lò, đung đưa chân.

– Để khô thì được. – Ông già nói. – Chum kín, kho cao, không cho nó ngửi thấy hơi nước. Nó mà ngửi thấy nước là nó tự tôi, tự bở ra. Vôi sống khát nước, nhớ chưa.

– Nhớ rồi. Ướt tay thì đừng bốc.

– Giỏi.

Tạ Uyên châm lửa lúc giờ Dần ngày hai mươi tư, bằng bó đóm và ba nén hương, như ông Nhẫm vẫn làm. Ông Nhẫm ngồi bên cửa lò trên cái ghế tre chị Ngát mang ra, đắp một cái chăn mỏng dù trời tháng Sáu nóng như rang. Ông không vào nhà nữa.

Ba ngày ba đêm, ông ngồi đó.

Ngày đầu, ông còn mắng. Chỗ này lửa yếu, mở cửa gió một ngón. Chỗ kia khói đen, có cục than ướt. Ngày thứ hai, ông nói ít hơn, ho nhiều hơn. Ông dạy con bé Ấm nhìn khói: khói xám là củi cháy, khói trắng là đá nhả hơi, không thấy khói mà chỉ thấy hơi run run trên miệng lò là vôi chín. Con bé ngồi bó gối dưới chân ông, ngửa cổ nhìn khói cả buổi chiều, thỉnh thoảng lại reo: ông ơi, trắng rồi. Ông bảo: chưa, còn xám, mắt mày đểnh đoảng.

Đêm thứ hai, ông kể chuyện. Ông kể ngày xưa Khe Vôi chỉ có hai lò, ông nội ông xây Lò Cả bằng đá tự tay đẽo. Kể năm lũ to nhất, nước ngập tới miệng lò, cả làng ngồi trên mái nhà ba ngày. Kể về bà vợ, người đàn bà làng bên sông, cười một cái là lộ cái răng khểnh. Ông không kể gì về thằng con. Tạ Uyên ngồi canh lửa, nghe. Chị Ngát ngồi trên chõng trong lán, nghe. Ông Khải Chính đứng ở mép bãi đá một lúc lâu, rồi đi.

Đêm thứ ba, ông Nhẫm không nói nữa. Ông ngồi trên ghế tre, nhìn miệng lò. Tạ Uyên đặt tay lên vách lò, cảm lửa. Lửa đều. Ở trong lò, những cục đá vôi đang nhả hơi cuối cùng, nhẹ dần, nhẹ dần.

Gần sáng, ông già cất tiếng, khàn như giấy ráp:

– Tư.

– Vâng.

– Nhìn miệng lò.

Hắn nhìn. Trên miệng lò không còn khói. Chỉ có một làn hơi run run trong suốt, làm méo những ngôi sao phía sau.

– Chín rồi. – Ông Nhẫm nói. – Đóng cửa gió.

Hắn đóng. Ông già gật đầu. Ông lấy điếu cày, nhồi một điếu thuốc lào, châm, rít một hơi dài. Lần này ông không ho. Ông nhả khói, nhìn khói bay lên lẫn vào làn hơi trên miệng lò.

– Cả đời đốt lò, mẻ này đều nhất. – Ông nói. – Không có cục nào gan gà.

Hắn chưa kịp trả lời, ông đã nói tiếp, không nhìn hắn:

– Đá không chịu thì đừng ép lửa. Người cũng thế. Nhớ lấy.

Rồi ông im.

Tạ Uyên ngồi canh tới khi trời hửng. Hắn tưởng ông già ngủ. Ông vẫn ngồi thẳng trên ghế tre, chăn trên đùi, điếu cày dựa vào vai, mắt nhìn về phía miệng lò. Lúc gà gáy lần thứ ba, con bé Ấm thức dậy, chạy ra, nhào vào lòng ông như mọi buổi sáng.

– Ông ơi, vôi chín chưa?

Ông Nhẫm không trả lời.

Đám tang ông Nhẫm làm chiều hai mươi bảy. Cả làng Khe Vôi đi đưa, đông hơn hôm họp đình. Tám lò vôi dọc sông tắt lửa một ngày. Người ta khiêng ông lên bãi tha ma chân núi Ngà, chôn cạnh mộ thằng con ông, cách mộ cái Sen hai hàng phi lao.

Tạ Uyên đào huyệt. Ông trưởng làng Ẩn định gọi người đào, chị Ngát gạt đi, bảo để anh Tư đào. Không ai cãi. Hắn đào một mình, từ trưa tới chiều, đất đỏ lẫn sỏi trắng. Khi hạ quan, hắn đứng ở chân huyệt, đỡ đầu dây.

Khi đắp xong nấm mộ, người làng thắp hương. Từng người một, cúi lạy, cắm hương, rồi đi. Tạ Uyên đứng cuối cùng. Hắn nhìn nấm đất mới, nhìn cái điếu cày chị Ngát đặt trên mộ.

Lần này hắn quỳ. Hắn không biết mình có quyền không. Ông già đã bảo: ở Khe Vôi, nó là thằng Tư làm thuê cho tôi. Thằng Tư làm thuê thì được quỳ trước mộ chủ lò.

Ông Khải Chính đứng ở cuối bãi, sau hàng phi lao, chờ tới khi hắn đứng dậy mới quay đi.

Trên đường xuống đồi, chị Ngát đi chậm lại cho hắn đuổi kịp. Hai người đi qua mộ cái Sen, hòn đá vôi trắng dựng đứng làm dấu. Chị dừng lại.

– Đêm ấy ở Bến Mây, anh có thấy nó không? – Chị hỏi, không nhìn hắn.

– Tôi không biết mặt cô ấy. – Hắn nói. – Tôi chạy qua bến. Có nhiều người nằm ở bến.

Chị đứng im một lúc, rồi cúi xuống nhổ một cây cỏ mới mọc bên hòn đá.

– Nó mà còn, nó sẽ hỏi anh câu ấy trước tiên. – Chị nói. – Tôi hỏi thay nó thôi.

Sáng hai mươi chín, ra lò. Không ai bảo ai, đàn ông các lò khác kéo sang Lò Cả từ sớm, mang theo sọt, mang theo chum. Tạ Uyên xuống đáy lò, đưa vôi cục lên. Người trên miệng lò đỡ, chuyền tay nhau ra tới bãi đá. Đàn bà lót rơm khô dưới đáy chum, xếp vôi vào, trát miệng chum bằng đất sét nhào với trấu, ấn chặt. Chị Ngát đi kiểm từng cái, chỗ nào đất sét còn hở thì trát thêm. Con bé Ấm chạy theo, nhắc ai cũng một câu: tay khô chưa, tay ướt thì đừng bốc.

Bốn mươi hai chum vôi sống. Người ta khiêng từng chum bằng đòn càn, đi thành một hàng dài trên con đường làng trắng, lên tới cái kho nền cao cạnh đình. Ông trưởng làng Ẩn đứng ở cửa kho, đếm, ghi vào sổ, mỗi chum một nét. Đếm xong, ông khóa cửa kho, treo chìa ở cột đình.

– Mẻ của ông Nhẫm. – Ông nói, như đọc một câu khắc trên bia. – Để dành cho mùa lũ.

Đêm hai mươi chín tháng Sáu, con bé Ấm ngồi một mình dưới chân Lò Cả.

Nó không ngủ được. Từ hôm ông Nhẫm mất, nó không khóc nhiều như chị Ngát sợ. Nó chỉ im, ăn ít, đêm ngồi nhìn cái lò đã nguội. Tạ Uyên ngồi cách nó một sải, không nói gì. Rồi nó tự ngồi xếp bằng, tự nhắm mắt, tự thở.

Hắn không ngồi tựa lưng nó như mọi khi. Hắn chỉ ngồi gần, sẵn sàng.

Nó thở như uống nước giếng. Chậm, mát, xuống tận đáy. Khí đi xuống rốn, vòng ra sau lưng, đi lên theo sống lưng, tới cái chỗ sau gáy nơi nó vẫn kẹt suốt một tháng nay. Hắn cảm được luồng khí dừng lại ở đó, như mọi lần. Rồi nó không dừng. Nó tràn qua, như nước lũ tràn qua bờ mương, lên đỉnh đầu, xuống trán, xuống mũi, về lại chỗ nó bắt đầu.

Một vòng.

Hàn khí trong người con bé, lần đầu tiên từ lúc nó lọt lòng, có một con đường trọn vẹn để đi. Nó không đọng lại ở đâu. Nó không đóng băng chỗ nào. Nó đi, và đi, rồi lại đi, đều như nước chảy trong mương.

Con bé mở mắt. Trên mi nó không có sương.

– Chú ơi. – Nó nói khẽ. – Nó đi về chỗ cũ rồi.

– Ừ. – Tạ Uyên nói. – Nó đi về chỗ cũ rồi.

Hắn không nói thêm. Hắn đứng dậy, đi lên đầu làng, gõ cửa nhà trưởng làng. Hắn không cần đi. Ông Khải Chính đã đứng trong sân, áo đã chỉnh tề, như đã chờ suốt đêm.

Hai người cùng xuống Lò Cả. Ông già áo lam quỳ xuống trước con bé, đặt hai ngón tay lên cổ tay nó. Ông nhắm mắt, rất lâu. Khi mở mắt, mắt ông đỏ.

– Luyện Khí tầng một. – Ông nói. – Trước rằm tháng Bảy mười lăm ngày.

Con bé nhìn ông, rồi nhìn Tạ Uyên, rồi lại nhìn ông.

– Ông bảo con dẫn được khí một vòng thì ông trả lời. Ông trả lời con đi.

Khải Chính nhìn đứa bé. Ông cầm cái khóa bạc trên ngực nó, lật mặt sau, đặt ngón tay cái lên chữ khắc run run.

– Ta là ông nội con. – Ông nói. – Chữ này ta khắc. Khắc xấu, vì tay ta không quen cầm dao.

Con bé không reo lên. Nó nhìn ông rất lâu, như nhìn một quả nhót xem đã chín chưa. Rồi nó gật đầu, một cái, và ngả đầu vào vai ông.

Tạ Uyên đứng dậy, phủi bụi vôi trên quần. Hắn đưa cổ tay trái ra, chỗ vòng Thủy ấn màu lam.

– Đến hẹn rồi, Văn trưởng lão. Tôi theo ông.

Khải Chính không nhìn cổ tay hắn. Ông vẫn ôm đứa bé, mắt nhìn ra sông, về phía hạ nguồn.

– Chưa. – Ông nói. – Trước khi về núi Gương, ngươi đi Bến Mây với ta.

— Hết chương 12 —

Mục lục Ma đầu nung vôi bên sông Rạng

  1. 1Đứa bé gõ cửa lò nguội9 phút
  2. 2Vôi sống uống nước12 phút đọc
  3. 3Tro thì đừng ăn10 phút đọc
  4. 4Gã bán kim chỉ9 phút đọc
  5. 5Phiên chợ mùng Mười10 phút đọc
  6. 6Thở như uống nước giếng10 phút đọc
  7. 7Cái gương nhỏ trong khóa bạc9 phút đọc
  8. 8Người đi theo viên ngọc đen10 phút đọc
  9. 9Hai người bên miệng lò9 phút đọc
  10. 10Đình làng Khe Vôi9 phút đọc
  11. 11Lửa một bên, nước một bên9 phút đọc
  12. 12Mẻ lò cuối của ông Nhẫm10 phút đọc
  13. 13Bến Mây bảy năm sau9 phút đọc
  14. 14Mũi kiếm trong trụ đá10 phút đọc
  15. 15Tấm gương nước trên mui thuyền10 phút đọc
  16. 16Ba ngày của sư đệ10 phút đọc
  17. 17Hai trăm bốn mươi người gánh vôi10 phút đọc
  18. 18Đá không chịu thì đừng ép lửa9 phút đọc
  19. 19Mũi kiếm thứ hai9 phút đọc
  20. 20Vôi tôi để xây10 phút đọc

Về truyện này

Ma đầu nung vôi bên sông Rạng là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →