Chương 8: Người đi theo viên ngọc đen
Đốm lửa trong viên ngọc đen sáng thêm một nấc khi thuyền vòng qua doi cát cuối cùng.
Văn Khải Chính ngồi ở mũi thuyền, viên ngọc đặt trong lòng bàn tay trái, tay phải xoay chầm chậm một cái chén trà đã nguội từ lâu. Thói quen ấy ông có từ hồi còn là đệ tử ngoại môn, hơn trăm năm trước: khi nghĩ, tay phải lúc nào cũng cần có cái gì để xoay. Suốt hai mươi ngày dò dọc sông Rạng, cái chén trà chưa lúc nào đứng yên.
– Sư bá, có phải chỗ kia không ạ? – Ninh Thục đứng sau lưng ông, tay che mắt nhìn lên phía trước. – Trắng quá. Như tuyết.
Phía trước, bờ sông bên trái trắng một dải dài dưới chân một quả núi đá trắng ngà. Khói lò bốc lên ba bốn cột, bị gió sông bẻ nghiêng. Ông nhìn dải đất trắng ấy, và tay phải xoay cái chén chậm lại. Rồi dừng. Ông đặt cái chén xuống ván thuyền, chắp hai tay vào nhau cho khỏi run.
– Phải. – Ông nói. – Cập bến đi.
Viên ngọc đen đến tay ông vào cuối tháng Hai. Một gã thẩm định ở tiệm pháp khí của tông môn dưới thành Tĩnh Thủy nhận ra nó: ngọc mài tròn, bóng như mắt cá, trong có đốm lửa không bao giờ tắt. Bố cáo truy nã Tàn Đăng ma đầu có tả nó, vì nhiều kẻ sống sót sau các trận đánh với hắn đều nhớ cái đốm đỏ lập lòe ấy trên ngực hắn. Tiệm mua lại nó từ một tay buôn, tay buôn mua của một tán tu già tên Khú ở trấn Rạng.
Khải Chính tự mình xuống trấn Rạng. Lão Khú khai hết, khai nhanh, khai thừa. Lão nói người đổi ngọc là một gã đàn ông tay đen, đi cùng một đứa bé gái chừng năm sáu tuổi. Lão nói đứa bé đặt tay lên đá thử căn thì đá đóng băng rồi nứt. Lão nói tới chữ Hàn Tuyền thì mắt sáng lên như vẫn còn tiếc.
Từ trấn Rạng, viên ngọc chỉ đường, nhưng chỉ rất kém. Ngọc đựng lửa của người tu Phệ Hỏa nhận ra lửa của chủ, nhưng chỉ khi chủ dùng lửa. Có đêm đốm đỏ trong ngọc bừng lên, có đêm tắt lịm như than nguội cả đêm. Càng tới gần chủ, đốm đỏ bừng lên càng to. Ông dò hết các bến xuôi trấn Rạng, rồi quay lên dò các bến ngược, mỗi đêm ngồi nhìn viên ngọc như người đi câu nhìn phao. Khải Chính không báo về tông. Ông chỉ mang theo Ninh Thục, đứa đệ tử mười chín tuổi mới lên Trúc Cơ, giỏi trận pháp, ngay thẳng như cây sào.
– Sư bá, sao mình không báo tông chủ? – Con bé hỏi ông câu ấy lần thứ năm từ hôm rời trấn Rạng. – Tông chủ cử Kiều sư huynh mang trận xuống vây thì chắc ăn hơn. Một mình sư bá, nhỡ hắn...
– Hắn nứt đan rồi. Ta đánh nứt nó ở Hẻm Quạ. – Khải Chính nói. – Ta muốn tự mình xem.
Ông không nói hết. Ông không nói rằng bảy năm nay, ông là người duy nhất ở Huyền Giám Tông muốn bắt sống Tàn Đăng. Những người khác muốn hắn chết. Ông muốn hắn chết, nhưng trước khi chết, ông muốn hắn kể. Kể đêm Bến Mây, con trai ông đã chết như thế nào. Ông muốn nghe nó từ miệng kẻ giết người. Còn vì sao ông cần nghe, thì ông không nói với ai, kể cả với chính mình.
Thuyền cập bến Khe Vôi lúc giữa buổi sáng.
Ông trưởng làng Ẩn đã chạy ra tới bến, áo dài the khoác vội, khăn xếp đội lệch. Người làng nghề ven sông không thường thấy tiên nhân, nhưng nhìn cái gương đồng trên mũi thuyền thì ai cũng biết. Ông Ẩn chắp tay vái ba vái, lưng cúi gập.
– Bẩm tiên ông, làng Khe Vôi chúng con có lỗi gì...
– Không có lỗi gì. – Khải Chính đỡ ông dậy. Giọng ông chậm, rõ từng chữ, giọng của người cả đời làm việc ở Chấp pháp đường. – Ta hỏi thăm một người. Năm nay làng có ai lạ tới ở không?
Ông Ẩn nghĩ một lúc.
– Bẩm, có anh Tư. Trôi sông dạt vào hồi tháng Giêng. Ông Nhẫm ở Lò Cả nhận làm thuê vác đá. Người hiền, ít nói. Anh ấy hạ được con lợn rừng đầu đàn cho làng.
Trên lòng bàn tay Khải Chính, đốm lửa trong viên ngọc bùng lên, đỏ rực như mắt con thú.
– Lò Cả ở đâu?
– Cuối làng, bẩm tiên ông. Cái lò to nhất.
Ông bảo Ninh Thục ở lại bến, giữ thuyền. Con bé cãi, ông nhìn nó một cái, nó im. Ông dặn thêm: nếu tới trưa ông không quay lại bến, nó thả chim giấy báo về tông. Đó là phép của Chấp pháp đường, ông không bỏ phép.
Ông đi bộ qua làng. Đường làng lát đá vôi, bụi trắng bám lên vạt áo lam của ông. Mùi vôi nồng hăng xộc lên mũi. Hai bên đường, người làng đứng lấp ló sau cổng tre nhìn ông, trẻ con chạy theo sau một quãng rồi bị mẹ gọi giật lại. Một người đàn bà đang nhóm bếp ở quán nước bên bến ngẩng lên nhìn ông, mắt sắc như dao, không cúi chào. Đứa bé trai đứng cạnh chị định vái, bị chị kéo tay lại. Ông thấy thế, và nhớ, như ông vẫn nhớ mọi chi tiết nhỏ ở mọi hiện trường suốt mấy chục năm làm ở Chấp pháp đường.
Ông không nhìn họ. Ông nhìn những bức tường. Tường nhà ở Khe Vôi trát toàn vôi, trắng xóa. Tường rào, tường bếp, cả thành giếng cũng trắng. Ông nhìn những mảng vôi bong tróc trên một bức tường cũ, khô và nứt như vảy, và bàn tay ông lại muốn tìm cái chén trà mà xoay. Bảy năm nay, ông không chịu nổi những bức tường vôi cũ.
Tới gần cuối làng, ông dừng lại.
Có một luồng khí lạnh trong không khí. Rất nhẹ, nhưng rõ, như hơi bốc lên từ một mạch suối ngầm giữa trưa tháng Tư nắng gắt. Ông đã sống một trăm sáu mươi tư năm ở bên hồ Tĩnh Giám, sống giữa hơi nước, ông biết thứ khí ấy. Khí của thủy căn. Mà là thủy căn rất thuần, rất lạnh, của một đứa trẻ chưa biết dẫn khí cho đều.
Rồi ông thấy nó.
Một đứa bé gái từ trong vườn sau một căn nhà gạch thấp đi ra, ôm trước bụng một cái rổ tre đầy nhót chín. Những quả nhót đỏ au, lốm đốm trắng, mọng như sắp vỡ. Con bé gầy, tóc cắt ngắn lởm chởm, mặc cái áo bông cũ cắt cụt, môi nhuộm đỏ vì ăn nhót. Nó đi, vừa đi vừa nhón một quả bỏ vào miệng, vừa nhổ hạt ra đất.
Trên ngực nó, một cái khóa bạc nhỏ đung đưa theo bước chân, bắt nắng, sáng lóa lên một cái.
Văn Khải Chính đứng sững giữa đường.
Hình con cá chép. Ông biết hình con cá chép ấy. Ba mươi tám năm trước, ông đã ngoài một trăm hai mươi tuổi, đã ngồi ghế trưởng lão, vợ ông mới sinh cho ông đứa con trai duy nhất. Người tu sinh con muộn, có được là quý. Ông xuống thành Tĩnh Thủy, đặt thợ bạc làm một cái khóa trường mệnh, dặn chạm con cá chép vượt vũ môn ở mặt trước, mặt sau để trơn. Rồi ông mang về, tự tay cầm dao khắc lên mặt sau dấu gương tông môn và tên con. Ông không quen cầm dao khắc. Nét chữ run.
Khóa ấy con trai ông đeo tới năm mười hai tuổi thì tháo ra, cất vào hộp. Khi xuống Bến Mây làm nhiệm vụ, nó mang theo cả cái hộp. Lúc nhặt xác con ở Bến Mây, ông đã lục khắp nơi, không tìm thấy cái khóa ấy.
– Ông ơi, ông ăn nhót không? – Con bé đã đi tới trước mặt ông, ngửa cổ lên nhìn. Nó chìa ra một quả nhót. – Nhót nhà ông Nhẫm ngọt lắm. Hôm nay con sáu tuổi, ông Nhẫm cho con hái cả cây.
Khải Chính quỳ xuống. Một trăm sáu mươi tư tuổi, đầu gối ông chạm xuống mặt đường đá vôi, bụi trắng bám lên vải lam. Ông không nhận quả nhót. Tay ông run run đưa ra, chạm vào cái khóa bạc trên ngực con bé, lật nó lại.
Dấu gương tông môn. Chín gợn sóng. Bên dưới, một chữ khắc tay, nét run: Thạc.
Khí lạnh từ người con bé tỏa ra, lạnh tới mức đầu ngón tay ông đọng sương. Ông nhìn mặt nó. Cái trán dô. Cái cằm nhọn. Đôi lông mày rậm, mọc gần nhau ở giữa, như hai con sâu róm chụm đầu. Lông mày ấy, vợ ông ngày trước hay trêu, là cái duy nhất thằng Thạc giống ông.
– Cái khóa này... – Giọng ông khàn đi, không còn là giọng của Chấp pháp đường. – Ai cho con?
Con bé nhìn ông, không sợ, chỉ thấy ông già này quỳ giữa đường thì lạ.
– Của bố con. – Nó nói. – Bố con chết rồi, mẹ con cũng chết rồi. Cái khóa đen lắm, chú Tư lau cho con đấy. Ông xem, sáng chưa?
Từ phía Lò Cả, cách đó chừng hai chục bước, có tiếng chân nện trên bãi đá rồi ngừng lại.
Khải Chính ngẩng lên.
Một người đàn ông đứng ở cửa lán sau lò, đòn gánh trên vai, hai sọt vôi trắng xóa. Áo nâu bạc màu, chân đất, cánh tay trần dính bụi vôi từ khuỷu xuống. Còn từ cổ tay xuống tới đầu ngón, hai bàn tay ấy đen như ngâm mực.
Trong lòng bàn tay trái của Khải Chính, viên ngọc đen nóng rực lên như hòn than.
Người đàn ông kia không bỏ chạy. Hắn từ từ đặt đòn gánh xuống, hai sọt vôi chạm đất. Hắn nhìn ông, rồi nhìn con bé đang đứng giữa hai người, tay vẫn chìa ra một quả nhót đỏ.
– Ấm. – Hắn nói, giọng rất bình thường, như gọi nó vào ăn cơm. – Mang nhót vào cho ông Nhẫm đi con.
– Ông này hỏi cái khóa của bố con, chú Tư ạ.
– Ừ. Chú biết. Con vào đi.
Con bé nhìn hắn, rồi nhìn ông già đang quỳ, rồi ôm rổ nhót chạy vào sân nhà gạch, cái khóa bạc nảy lên trên ngực nó từng nhịp.
Văn Khải Chính đứng dậy. Đầu gối ông không còn run. Bảy năm, ông đã nghĩ tới giây phút này hàng nghìn lần, đã tính sẵn mình sẽ làm gì: rút kiếm, dựng trận, trói hắn bằng Thủy Liên, giải về núi Gương. Bây giờ ông chỉ đứng đó, cách hắn hai chục bước, viên ngọc đỏ rực trong tay.
– Tàn Đăng. – Ông nói.
– Văn trưởng lão. – Tạ Uyên đáp. – Ông đánh tôi ở Hẻm Quạ. Tôi nhớ giọng ông.
Ông không hỏi hắn có biết đứa bé là ai không. Ông nhìn mặt hắn, và ông biết là hắn biết.
— Hết chương 8 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe