Chương 14: Mũi kiếm trong trụ đá
Ông Khải Chính ngồi dưới chân trụ đá từ trưa tới tối, không ăn, không uống, không nói.
Tạ Uyên không ngồi cạnh ông. Hắn ngồi trên bậc thềm đình, cách một khoảng sân. Hắn nhặt mấy mảnh ngói vỡ, xếp thành một cái bếp nhỏ, nhóm lửa bằng cành khô nhặt ở bìa thị trấn, nấu một nồi cháo gạo mang theo từ thuyền. Hắn múc một bát, mang tới đặt bên cạnh ông già. Ông không nhìn. Bát cháo nguội dần trên nền gạch.
Chiều, hắn đi xuống bến một mình.
Dọc mép bến, sát chân bậc đá, còn một dãy lều quán đổ nát. Cột tre đã mục, mái lá cọ sập xuống thành đống, nhưng những cái bếp xây bằng đá kê vẫn còn, cái nào cũng đen muội. Hắn đi dọc dãy quán. Ở quán thứ tư, cái bếp kê sát một cây sung già, rễ sung trồi lên ôm lấy hòn đá kê bếp. Trong góc, dưới đống lá mục, có một cái chõng tre gãy chân, mấy cái bát sành vỡ, một cái ấm chè to bằng cái thùng, nắp đã mất.
Ấm chè to bằng cái thùng. Giống hệt cái ấm trên chõng quán chị Ngát.
Hắn bới đống lá. Dưới đáy, trong một cái hộp gỗ nhỏ đã mục mất nắp, có một vật tròn bằng lòng bàn tay, bọc trong mảnh vải hoa đã bạc. Một cái gương đồng loại rẻ tiền người ta bán ở chợ phiên, mặt gương đã mờ xỉn. Mặt sau có mấy chữ cào bằng mũi kim, nét non nớt, như người mới học chữ: cho Ngát.
Hắn đứng cầm cái gương rất lâu. Rồi hắn gói lại vào mảnh vải hoa, cất vào túi áo, đi lên.
Mặt trời lặn sau bờ sông bên kia. Rồi trăng lên, rằm tháng Bảy, tròn và to như cái mâm đồng, vàng ửng ở chân trời rồi trắng dần khi lên cao. Sân đình Bến Mây sáng như ban ngày. Bóng cây trụ đá đổ dài trên nền gạch, đè lên người ông già.
Câu hỏi nằm giữa hai người từ đêm mùng tám tháng Tư bên miệng Lò Cả. Tạ Uyên biết nếu hắn không hỏi, ông già sẽ ngồi đó tới sáng.
– Thiên Võng rút cái gì? – Hắn hỏi.
Ông Khải Chính nhắm mắt.
– Sinh thủy. – Ông nói. – Mọi vật sống đều có nước. Cây có nước, đất có nước, người có nước. Thiên Võng rút nước trong mọi thứ ở trong vòng cờ, se thành sợi, đan thành lưới. Lưới càng nhiều nước càng chặt. Trận ấy làm ra để vây yêu thú ở rừng sâu, đầm hoang, chỗ không có người.
– Bến Mây có ba trăm người.
– Ba trăm mười hai. – Ông già nói. – Tông chủ bảo ta: trận sẽ rút từ địa mạch dưới lòng sông, sông Rạng khúc ấy là mạch nước lớn, không đụng tới người. Ta tin. Tông chủ đã tính, Thiên Thư Các đã xem. Ta không có lý do gì để không tin.
Ông mở mắt, nhìn lên đỉnh trụ đá, chỗ có cái hốc tròn như cái đĩa.
– Ta là người thắp trận nhãn. – Ông nói. – Không phải ở đây. Ta đứng trên chiếc thuyền lớn neo giữa dòng, cầm trận bàn. Mười hai đệ tử giữ cờ trên mười hai mái nhà, mười một đệ tử cầm kiếm chờ ở quảng trường, thằng Thạc nằm ở bến. Lúc ngươi hiện ra dưới gầm cầu tàu, ta thắp. Lưới giăng lên. Trên trận bàn của ta có mấy trăm đốm sáng nhỏ màu lam, ta tưởng là các nhánh địa mạch.
Ông dừng lại. Tay phải ông quờ tìm cái chén trà không có ở đó.
– Lúc lưới thít lại, các đốm sáng ấy mờ đi. Từng đốm, từng đốm. Ta nhìn thấy. Ta hiểu ra chúng là gì vào khoảng lúc ngươi giết người đệ tử thứ sáu. – Ông nói, giọng đều tới lạ, như đọc một bản hồ sơ. – Ta có thể dập trận lúc ấy. Chỉ cần úp trận bàn xuống. Ta không dập. Ta nghĩ: thêm một khắc. Tàn Đăng đã giết bao nhiêu người, sẽ giết bao nhiêu người nữa. Thêm một khắc thôi là trói được hắn. Một khắc đổi lấy hàng trăm mạng sau này.
Tạ Uyên ngồi im trên bậc thềm. Lửa trong cái bếp ngói vỡ đã tàn thành than.
– Thằng Thạc ở bến. – Ông già nói tiếp. – Nó thấy người ta ngã. Người bán hàng, người chèo đò, người khuân vác. Trẻ con. Chắc nó thấy cả vợ nó khuỵu xuống bên quán nước. Nó không có trận bàn, nó không úp được trận. Nó chỉ có thanh kiếm. Nên nó chạy về trận nhãn mà chém. Cái việc mà cha nó đứng trên thuyền, tay cầm trận bàn, không chịu làm.
Trăng lên cao hơn. Bóng trụ đá ngắn lại.
– Rồi ngươi đánh vào lưng nó. Mũi kiếm gãy trong trụ. Trụ nứt. Lưới lỏng. Ngươi thoát. – Ông Khải Chính nói. – Trận nhãn nứt thì trận yếu đi, sinh thủy không rút được nữa. Ai còn thở lúc ấy thì sống. Vợ nó còn thở.
– Và con bé. – Tạ Uyên nói.
– Và con bé.
Hai người im lặng. Ngoài bến, nước sông lũ chảy ào ào qua những cái cọc cầu tàu.
– Sáng hôm sau tông chủ xuống. – Ông già nói. – Ông ấy đi một vòng thị trấn, đứng nhìn các xác người rất lâu. Rồi ông ấy bảo ta: Tàn Đăng tu Phệ Hỏa, hút khí người. Người chết vì Phệ Hỏa thì sao? Ta bảo: da đen sạm, như cháy từ trong ra. Ông ấy bảo: thế thì người Bến Mây chết khô, da trắng, là vì Tàn Đăng hút cạn tới mức cả cái đen cũng không còn. Ghi như thế. Ta ghi như thế. Ta ký tên. Ba tháng sau ta lên làm Chấp pháp trưởng lão.
– Ông biết là sai.
– Ta biết từ lúc trên thuyền. – Ông già nói. – Bảy năm ta đuổi theo ngươi. Ta tự bảo mình là đuổi theo kẻ giết con ta. Đúng thế. Nhưng còn một chuyện nữa. Giết được ngươi, giải về núi Gương, đem ra trước Ngũ Phong Minh xử, thì Bến Mây khép hồ sơ. Không ai hỏi nữa. Không ai lật lại xem các xác người ấy da trắng hay đen. Ngươi chết thì cái tội của ta cũng được chôn theo.
Tạ Uyên nhìn ông già ngồi dưới chân trụ. Ông Khải Chính trông nhỏ đi, vai thõng, như một ông già làng nào đó ngồi trước mộ con.
– Sao ông kể với tôi? – Hắn hỏi. – Tôi là ma đầu. Tôi đem chuyện này ra nói ở đâu cũng không ai tin.
– Vì thế. – Ông già nói. – Bảy năm ta không kể với ai được. Kể với người tin được thì người ta sẽ tin. Ta chưa đủ gan cho chuyện ấy. Kể với ngươi thì như kể với cái trụ đá này.
Hắn không nói gì. Cái trụ đá thì đứng đó, một mũi kiếm cắm trong ngực.
– Tôi cũng có một chuyện. – Tạ Uyên nói.
Ông già ngẩng lên.
– Lúc anh ta chạy qua quảng trường, tôi thấy anh ta không cầm kiếm hướng về tôi. Tôi thấy anh ta chạy về trụ đá. Tôi không biết anh ta định làm gì, nhưng tôi biết anh ta không đánh tôi. – Hắn nói, giọng phẳng. – Tôi đánh vào lưng anh ta vì đó là thói quen. Ai cầm kiếm mà chạy gần tôi, tôi đánh. Tôi không cần biết vì sao.
Hắn nhìn mũi kiếm gỉ đỏ trong khe nứt.
– Nếu tôi không đánh, anh ta chém thêm được một nhát. Hai nhát. Trụ đứt sớm hơn mấy nhịp. Mấy nhịp ấy, có khi thêm mười người sống, hai mươi người sống. Tôi không biết. Không ai biết được nữa. – Hắn nói. – Ông đứng trên thuyền không chịu úp trận bàn. Tôi đứng dưới quảng trường đánh vào lưng người duy nhất đang cứu cả cái bến này. Tôi sống được tới giờ là nhờ nhát kiếm của người tôi giết.
Ông Khải Chính nhìn hắn. Hai người nhìn nhau rất lâu dưới trăng rằm. Không ai nói câu nào kiểu ngươi cũng có tội, ta cũng có tội, coi như hòa. Không có gì hòa ở đây.
Rồi ông già đứng dậy. Ông đặt lòng bàn tay lên khe nứt ở thân trụ, ngay chỗ mũi kiếm cắm. Từ tay ông, một làn hơi nước rỉ ra, len vào khe, thấm vào chân mũi kiếm. Có tiếng đá kêu răng rắc rất khẽ. Ông nắm lấy phần thép gãy, rút ra. Mũi kiếm tuột khỏi lòng đá, dài một gang tay, gỉ đỏ, mép còn sắc.
Ông lấy vạt áo trong lau lớp gỉ. Dưới lớp gỉ, nửa vòng gương và mấy gợn sóng hiện ra, nét khắc của thợ rèn tông môn, thẳng và sắc, không run như nét chữ trên khóa bạc.
Ông gói mũi kiếm vào một mảnh vải, cất vào ngực áo, chỗ đã cất viên ngọc đen.
– Ngươi định làm gì? – Tạ Uyên hỏi.
– Giải ngươi về núi Gương. Như đã hẹn. – Ông nói. – Nhưng không giải về Chấp pháp đường. Giải thẳng lên thành Ngũ Phong. Ngươi khai tội của ngươi. Ta khai tội của ta. Trụ đá này còn đây, mũi kiếm này còn đây, ba trăm mười hai cái xác dưới gò đất kia còn đây. Ngũ Phong Minh có người xem được xác chết vì Thiên Võng.
– Tông chủ ông sẽ không để ông đi tới thành Ngũ Phong.
– Ta biết.
Đúng lúc ấy, một cái gì đó trắng trắng chao xuống từ trên trời, lượn một vòng quanh mái đình đổ, rồi đậu lên vai ông Khải Chính. Một con chim giấy. Cánh nó đã sờn, rách một góc, như đã bay một đường rất dài và rất vội.
Ông gỡ nó xuống, mở ra. Tạ Uyên thấy tay ông dừng lại giữa chừng.
Ông đọc to. Giọng ông khô như vôi.
– Sư bá. Chiều nay đại sư huynh Kiều Lãm tới Khe Vôi, mang theo hai mươi đệ tử và mười hai ngọn cờ Thiên Võng. Lệnh tông chủ: đợi ma đầu theo thuyền về làng thì vây bắt, đưa đứa bé có Hàn Tuyền căn về tông, sư bá Khải Chính về tông chờ xét vì tội trái phép. Thư tông chủ gửi đệ tử hồi tháng Năm dặn đệ tử báo tin ngay khi sư bá rời làng. Đệ tử đã báo. Sư huynh Kiều đã cắm cờ quanh làng. Đệ tử xin lỗi sư bá.
Ông gập tờ giấy lại, rồi mở ra nhìn lần nữa dưới trăng. Ở dòng cuối, nét chữ của con bé Ninh Thục nguệch ngoạc hơn, như viết vội trong bóng tối:
Chị Ngát kể mẹ đứa bé da trắng bong như vôi, trước khi chết bảo đêm ấy thấy trời giăng lưới xanh. Đệ tử học trận, đệ tử biết đó là dấu sinh thủy bị rút. Đệ tử thấy trận cờ cắm quanh chỗ có người. Giống như Bến Mây.
— Hết chương 14 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe