AI Truyện
Ma đầu nung vôi bên sông Rạng

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn

Tấm gương nước trên mui thuyền

Ma đầu nung vôi bên sông Rạng · Chương 15/20 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 15: Tấm gương nước trên mui thuyền

Thanh kiếm của ông Khải Chính bay lên khỏi vỏ được nửa thước thì rơi xuống ván thuyền, kêu đánh xoảng một tiếng như thanh sắt thường.

Ông nhìn nó. Thanh kiếm dài ba thước, lưỡi xanh như nước hồ, chuôi khắc dấu gương chín gợn, thứ kiếm Chấp pháp đường cấp cho ông từ ba mươi năm trước, khi ông còn là phó đường. Trên lưỡi kiếm, dấu gương đã tắt. Bình thường nó sáng mờ mờ như ánh trăng dưới nước. Bây giờ nó chỉ là nét khắc trên thép.

– Phong rồi. – Ông nói. – Tông chủ phong kiếm lệnh của ta.

Sáng mười sáu tháng Bảy. Hai người rời Bến Mây từ khi trời chưa sáng. Ông Khải Chính định bay về trước, dùng kiếm mang theo Tạ Uyên, một ngày là tới Khe Vôi. Kiếm của Kết Đan hậu kỳ chở thêm một người không phải chuyện khó. Nhưng kiếm không bay.

– Thế thì đi thuyền. – Tạ Uyên nói. – Ngược lũ thì bốn ngày.

Hắn cầm cây sào.

Ông Khải Chính nhặt thanh kiếm lên, tra vào vỏ, động tác chậm như người cất một thứ đồ của người đã khuất. Ba mươi năm thanh kiếm ấy theo ông xử án, đuổi người, đứng gác trước cửa Chấp pháp đường. Tông chủ chỉ cần một ý nghĩ ở cách xa nghìn dặm là nó thành thanh sắt. Tạ Uyên nhìn ông già, và nghĩ tới viên ngọc đen hắn đã đổi ở chợ trấn Rạng. Đồ của tông môn thì tông môn lấy lại được. Đồ của sư phụ thì đổi đi được. Chỉ có tro trong người là không ai lấy, không ai đổi.

Bốn ngày ngược sông Rạng mùa lũ. Nước chảy xiết, đỏ như nước gạch, cuộn theo cây gãy, rác rều, có lúc cả xác trâu chương phình. Tạ Uyên đứng ở mũi chống sào, ông Khải Chính ngồi ở đuôi, một bàn tay thả xuống nước, khơi cho dòng nước quanh mạn thuyền chảy ngược lên. Một người lửa, một người nước. Thuyền đi được, nhưng chậm. Chỗ nào thác, hai người phải lên bờ kéo thuyền bằng dây.

Đêm mười sáu, ông Khải Chính múc một bát nước sông, để lắng cho trong, đặt lên mui thuyền. Ông nhỏ vào đó một giọt máu từ đầu ngón tay. Mặt nước rung lên, rồi phẳng lặng như gương. Trong mặt nước hiện ra một khuôn mặt.

Tạ Uyên ngồi khuất sau mui, không để mặt nước thấy mình.

Người trong gương trạc năm mươi, mặt vuông, da trắng, tóc đen nhánh búi cao cài trâm ngọc. Mắt ông ta hiền, giọng ông ta ấm, nói chậm như thầy đồ giảng sách. Tạ Uyên từng thấy ông ta một lần, ở Hẻm Quạ, đứng trên một mỏm đá xa, không xuống đánh, chỉ nhìn. Thôi Minh Viễn, tông chủ Huyền Giám Tông, Nguyên Anh sơ kỳ.

– Khải Chính huynh. – Ông ta nói. – Huynh đi Bến Mây làm gì?

– Đi xem lại trụ đá. – Ông Khải Chính nói. – Trong khe nứt có mũi kiếm của thằng Thạc. Nó chém vào trận nhãn. Nó không giữ trận. Nó phá trận.

Khuôn mặt trong bát nước không đổi sắc.

– Ta biết. – Tông chủ nói.

Ông Khải Chính im.

– Ta biết từ sáng hôm sau. – Tông chủ nói tiếp, giọng vẫn ấm. – Ta đã đứng ở cái trụ ấy lâu hơn huynh. Huynh còn bận ôm xác con. Ta thấy mũi kiếm. Ta để nó ở đó. Lôi nó ra thì phải viết thêm một dòng vào hồ sơ, rằng đệ tử Văn Thạc chết vì phá trận của chính tông môn mình. Viết dòng ấy ra thì ai cũng hỏi: vì sao nó phá. Huynh có muốn ai hỏi câu ấy không?

– Không. – Ông Khải Chính nói. – Bảy năm trước ta không muốn.

– Bây giờ huynh muốn?

– Bây giờ ta muốn.

Tông chủ thở dài, rất nhẹ, như thầy đồ thở dài trước một học trò giỏi mà cứng đầu.

– Khải Chính huynh. Huynh nghe ta nói một lần. Tàn Đăng giết bốn trăm tu sĩ trong tám mươi năm. Bốn trăm người ấy có cha mẹ, có con, có tông môn. Hắn sống thêm một năm thì thêm mười người. Bến Mây là cái giá. Ta không chối. Huynh cũng không chối được, vì huynh cũng nhìn các đốm sáng mờ đi mà không úp trận bàn. Huynh với ta cùng trả cái giá ấy. – Ông ta nói. – Huynh lật hồ sơ, Ngũ Phong Minh sẽ xử ta, xử cả huynh. Huyền Giám Tông mất mặt trước cả thiên hạ. Hai nghìn đệ tử, ba trăm năm danh tiếng. Các tông khác sẽ chia nhau linh mạch hồ Tĩnh Giám như chia thịt. Ba trăm mười hai người Bến Mây có sống lại không? Không.

– Còn trận cờ quanh làng Khe Vôi?

– Để chắc ăn. – Tông chủ nói. – Tàn Đăng nứt đan nhưng vẫn là Kết Đan hậu kỳ. Không có trận, Kiều Lãm không bắt nổi. Trận chỉ thắp khi hắn ở trong vòng, thít đủ chặt để trói hắn thì thôi. Kiều Lãm biết chừng mực.

– Thằng Thạc cũng tưởng ta biết chừng mực.

Khuôn mặt trong nước lặng đi một lúc.

– Ta cho huynh một lối. – Tông chủ nói. – Huynh về Khe Vôi. Kiều Lãm bắt Tàn Đăng, giao cho huynh tự tay xử. Huynh báo thù cho con. Đứa bé có Hàn Tuyền căn, ta nhận vào nội môn, dưới danh nghĩa cháu nội Chấp pháp trưởng lão, ta tự tay dạy nó. Hồ sơ Bến Mây khép lại. Huynh giữ ghế, giữ danh, giữ cháu. Mũi kiếm ấy, huynh thả xuống sông Rạng.

– Nếu ta không thả?

– Thì huynh về núi Gương chờ xét vì tội trái phép Chấp pháp đường. Ba tội, chính huynh viết. – Tông chủ nói, vẫn hiền. – Kiếm của huynh ta đã phong. Huynh đi thuyền về cho có thời gian nghĩ. Bốn ngày. Đủ để nghĩ.

Mặt nước trong bát rung lên, rồi trong lại, chỉ còn phản chiếu một mảnh trời đêm.

Ông Khải Chính ngồi bất động trước cái bát. Một lúc lâu sau, ông đổ bát nước xuống sông.

Tạ Uyên bước ra từ sau mui.

– Lão ấy nói đúng một chuyện. – Hắn nói. – Tôi sống thêm một năm thì thêm mười người. Ít nhất là trước tháng Giêng năm nay.

– Ta biết.

– Ông thả mũi kiếm xuống sông, ông giữ được cháu.

– Ta biết. – Ông Khải Chính nói lại. Ông đặt tay lên ngực áo, chỗ cất mũi kiếm. – Ta đã giữ ghế giữ danh bảy năm rồi. Bảy năm ta không nhìn được một bức tường vôi.

Hắn không hỏi thêm. Hắn ngồi xuống cạnh ông già.

– Trận ấy, nếu Kiều Lãm thắp lên, ông phá được không?

– Trận bàn nhận người thắp. Ta không úp được trận của Kiều Lãm. – Ông già nói. – Muốn phá thì phải phá trận nhãn. Trận nhãn có Kiều Lãm đứng giữ, có hai mươi đệ tử giữ cờ, canh làng. Ta một mình, kiếm bị phong.

– Còn sợi lưới? Lưới ấy làm bằng gì?

– Sinh thủy se lại. Nửa khí nửa nước.

– Gặp lửa thì sao?

– Co lại. Chặt thêm. – Ông Khải Chính nói. – Vì thế ở Bến Mây, ngươi càng đốt lưới càng thít. Ở Hẻm Quạ cũng thế.

Tạ Uyên im lặng một lúc. Hắn nhìn xuống sợi lạt đỏ trên cổ tay mình, buộc ba vòng, nút chết.

– Gặp thứ gì khát nước thì sao?

Ông Khải Chính quay sang nhìn hắn. Ông nhìn rất lâu, như thể hắn vừa nói một câu bằng thứ tiếng ông không biết.

– Chưa ai thử. – Ông nói.

Gần sáng, khi hắn đã cầm sào lên, ông già hỏi thêm một câu, như hỏi về thời tiết:

– Khe Vôi bao nhiêu người?

– Chừng hai trăm bốn mươi. Sáu chục nóc nhà.

– Ở Bến Mây, trận thắp lên được chừng một canh giờ thì trụ nứt. – Ông nói. – Nửa canh giờ đầu chưa ai ngã. Người ta chỉ thấy khát, môi khô, da khô, tưởng gió hanh. Qua nửa canh giờ thì trẻ con với người già ngã trước. Ba khắc nữa thì tới người khỏe. Những người còn thở được lúc trụ nứt là người khỏe nhất, hoặc ở xa trận nhãn nhất.

– Cô Sen ở bến. Xa đình.

– Ở bến. Xa đình. – Ông già nhắc lại. Rồi ông nói: – Kiều Lãm là người cẩn thận. Hắn sẽ không thắp trận khi chưa chắc ngươi ở trong vòng. Nhưng thắp rồi thì hắn sẽ không úp trận khi chưa trói được ngươi. Hắn học trận với ta. Ta dạy hắn thế.

Tạ Uyên đẩy sào. Thuyền nhích lên một sải ngược dòng nước đỏ.

– Nửa canh giờ. – Hắn nói.

– Nửa canh giờ.

Mấy ngày tiếp theo họ không nói chuyện nhiều. Tạ Uyên chống sào từ sáng tới tối, tới khi vai bật máu như ngày đầu gánh đá. Đêm, hắn vẫn nung tro. Vết nứt thứ ba trên kim đan đã trám được hai phần, chỉ còn một đoạn ngắn ở đầu. Vệt đen trên tay hắn lùi tới gần cổ tay. Ông Khải Chính ngồi đuôi thuyền, tay thả xuống nước, mắt nhìn lên nguồn. Thỉnh thoảng ông đặt tay lên ngực áo, như kiểm xem mũi kiếm còn đó không.

Chiều hai mươi tháng Bảy, thuyền vòng qua doi cát cuối cùng. Trời ngả tối. Trăng hai mươi chưa lên.

Tạ Uyên thấy chúng trước khi thấy làng.

Mười hai ngọn cờ. Cờ vải lam, cán đồng, cắm trên mười hai điểm cao quanh làng Khe Vôi: trên mái đình, trên mái kho chung, trên ngọn mấy cây gạo đầu làng, trên mỏm đá chân núi Ngà, trên miệng ba cái lò vôi. Gió sông thổi, cờ không bay. Chúng đứng thẳng, cứng đơ, như cắm vào một thứ không khí đặc hơn không khí thường. Mắt thường không thấy gì giữa các ngọn cờ. Mắt người tu thì thấy những sợi lam mảnh như tơ nhện, chưa căng, lỏng lẻo, nối từ cờ này sang cờ kia, chờ.

Trên bến, ánh đèn lồng lam treo ở mũi một chiếc thuyền lớn. Có người đứng trên thuyền ấy, áo lam, tay cầm một vật tròn như cái mâm. Trận bàn.

Rồi Tạ Uyên ngửi thấy một mùi khác. Không phải khói lò. Không phải mùi vôi.

Hắn ngẩng lên núi Ngà. Trên một mỏm đá trắng gần đỉnh, cao hơn mọi ngọn cờ, có một đốm lửa đỏ. Không phải đỏ của củi. Đỏ đục, đỏ sẫm, như than ủ dưới tro. Bên cạnh đốm lửa có một bóng người ngồi xếp bằng, hai cánh tay để trần. Hai cánh tay ấy đen, đen từ đầu ngón lên quá khuỷu, đen tới mức trong bóng chiều chúng như hai khúc gỗ cháy.

Bóng người ấy giơ một bàn tay lên, vẫy về phía con thuyền. Thong thả, vui vẻ, như người ta vẫy chào người nhà đi xa mới về.

— Hết chương 15 —

Mục lục Ma đầu nung vôi bên sông Rạng

  1. 1Đứa bé gõ cửa lò nguội9 phút
  2. 2Vôi sống uống nước12 phút đọc
  3. 3Tro thì đừng ăn10 phút đọc
  4. 4Gã bán kim chỉ9 phút đọc
  5. 5Phiên chợ mùng Mười10 phút đọc
  6. 6Thở như uống nước giếng10 phút đọc
  7. 7Cái gương nhỏ trong khóa bạc9 phút đọc
  8. 8Người đi theo viên ngọc đen10 phút đọc
  9. 9Hai người bên miệng lò9 phút đọc
  10. 10Đình làng Khe Vôi9 phút đọc
  11. 11Lửa một bên, nước một bên9 phút đọc
  12. 12Mẻ lò cuối của ông Nhẫm10 phút đọc
  13. 13Bến Mây bảy năm sau9 phút đọc
  14. 14Mũi kiếm trong trụ đá10 phút đọc
  15. 15Tấm gương nước trên mui thuyền10 phút đọc
  16. 16Ba ngày của sư đệ10 phút đọc
  17. 17Hai trăm bốn mươi người gánh vôi10 phút đọc
  18. 18Đá không chịu thì đừng ép lửa9 phút đọc
  19. 19Mũi kiếm thứ hai9 phút đọc
  20. 20Vôi tôi để xây10 phút đọc

Về truyện này

Ma đầu nung vôi bên sông Rạng là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →