Chương 20: Vôi tôi để xây
– Xương. – Vị trưởng lão Ngũ Phong Minh nói, và đặt lên mặt bàn đá một khúc xương ống chân dài chừng một gang tay. – Ba mươi khúc lấy từ gò đất Bến Mây. Khúc nào cũng thế này.
Khúc xương trắng đục, nhẹ bỗng, bề mặt rỗ li ti như bọt đá. Vị trưởng lão bóp nhẹ hai ngón tay vào một đầu. Đầu xương vỡ vụn ra thành bột, rơi xuống mặt bàn như vôi bột.
– Người chết vì Phệ Hỏa, xương đen từ trong tủy ra. – Ông ta nói. – Ba mươi khúc này không có một vết đen. Chỉ có khô.
Mười lăm tháng Chín, thành Ngũ Phong. Gian đại sảnh lát đá xám, năm cây cột lớn chạm năm ngọn núi. Năm vị trưởng lão của năm tông môn ngồi sau dãy bàn đá dài. Bên dưới, đứng thành hai hàng, là những người được gọi tới.
Tạ Uyên đứng ở hàng bên trái, cuối cùng. Hai tay hắn không bị khóa. Không cần khóa nữa. Hắn đi từ Khe Vôi tới đây bằng thuyền và bằng chân, mười một ngày, như một người thường. Lên dốc thì thở dốc. Hai bàn tay hắn trắng nhợt, chỗ da non mới lên còn hồng hồng ở kẽ ngón.
Ông Khải Chính đứng đầu hàng bên phải, chống một cây gậy tre. Sau ông là Kiều Lãm, rồi cô Ninh Thục. Đồ Cửu ngồi trên một cái ghế đặt riêng ở góc sảnh, hai tay đen tới gáy đặt im trên đùi, mắt nhìn xuống đất. Hắn không còn nói ngọt nữa. Hắn đã khai chuyện Hẻm Quạ, khai chuyện cái kim dò, khai cả chuyện sư huynh hắn ở đầm Lau ba mươi năm trước, khai bằng một giọng khàn đặc không lên không xuống.
Chị Ngát đứng sau cùng, bên cạnh ông trưởng làng Ẩn, cánh tay ông còn đeo nẹp. Hai người đi theo thuyền của Ngũ Phong Minh, làm chứng cho đêm hai mươi ba tháng Bảy. Chị kể lại chuyện ấy trước năm vị trưởng lão, kể bằng giọng bán hàng ở bến, không thêm không bớt: cờ xanh, khát, vôi sống, lưới đứt, mưa.
Ba ngày hội thẩm. Ông Khải Chính khai trước. Ông khai đêm Bến Mây, cái trận bàn, các đốm sáng tắt dần. Ông đặt mũi kiếm gỉ đỏ lên bàn đá cạnh khúc xương. Kiều Lãm khai sau ông, khai mình đã khát trên mái nhà kho muối, đã thấy những sợi lưới rút từ người dưới đường, và đã bảy năm tự bảo mình là nhìn nhầm. Cô Ninh Thục khai về lá thư tháng Năm của tông chủ, và về con chim giấy thứ hai. Nhờ con chim ấy, người của Minh đã chặn chiếc phi thuyền núi Gương ngay ở cửa núi chiều hai mươi ba tháng Bảy; nó không bao giờ tới được Khe Vôi.
Thôi Minh Viễn tới vào ngày thứ hai. Ông ta không chối. Ông ta đứng giữa sảnh, áo lam không một nếp nhăn, giọng vẫn ấm như thầy đồ giảng sách. Ông ta nói về bốn trăm tu sĩ, về hai nghìn đệ tử, về ba trăm năm danh tiếng, về cái giá. Ông ta nói rất hay. Năm vị trưởng lão nghe hết, không ngắt lời. Khi ông ta nói xong, vị trưởng lão ngồi giữa chỉ hỏi một câu:
– Ông đã biết mũi kiếm ở trong trụ đá từ sáng hôm sau. Sao ông không rút nó ra?
Thôi Minh Viễn im lặng rất lâu.
Phán quyết đọc vào chiều ngày thứ ba.
Thôi Minh Viễn bị phế ngôi tông chủ, giam ở ngục đá thành Ngũ Phong năm mươi năm. Huyền Giám Tông đặt dưới sự giám sát của Minh trong ba mươi năm, Thiên Võng Trận bị cấm dùng ở nơi có người. Tấm bia ở Bến Mây phải đục đi, khắc lại.
Văn Khải Chính bị bãi chức Chấp pháp trưởng lão, phạt mười năm ở Bến Mây, đắp lại đê, dựng lại đình, tu sửa gò mộ ba trăm mười hai người. Kiều Lãm phạt theo ông, năm năm.
Đồ Cửu, kinh mạch đã cháy, không còn tu được, giam suốt đời ở ngục đá.
Còn Tàn Đăng.
Năm vị trưởng lão bàn riêng gần một canh giờ về hắn. Bốn trăm tu sĩ, cả nhà tán tu ở đầm Lau, mười hai người ở Bến Mây. Có người muốn xử chết. Có người bảo kim đan đã vỡ, kẻ tu Phệ Hỏa mất đan thì cũng như chết rồi. Cuối cùng vị trưởng lão ngồi giữa đọc:
Tạ Uyên, ma hiệu Tàn Đăng, tu vi đã phế. Quản thúc suốt đời ở làng Khe Vôi, không được đi quá mười dặm. Phải nung đủ ba trăm mười hai thuyền vôi, chở xuống Bến Mây, để xây lại cái bến mà đêm ấy hắn đã góp phần giết.
Vị trưởng lão hỏi hắn có muốn nói gì không. Tạ Uyên ngẩng lên.
– Tấm bia ở Bến Mây. – Hắn nói. – Khắc lại thì xin khắc thêm một tấm nhỏ bên cạnh. Mười một người áo lam, một người áo nâu tên Văn Thạc. Ghi là chết dưới tay Tạ Uyên. Đừng ghi ma hiệu.
Năm vị trưởng lão nhìn nhau. Vị ngồi giữa gật đầu, bảo thư lại ghi vào.
Tạ Uyên cúi đầu. Hắn không nói gì thêm. Hắn tính trong đầu: một mẻ Lò Cả chừng ba thuyền. Mỗi tháng ba mẻ nếu đủ đá, mà mùa mưa thì không đốt được. Ba trăm mười hai thuyền thì phải mở thêm lò.
Lúc ra khỏi sảnh, chị Ngát đi cạnh hắn xuống bậc thềm đá.
– Ba trăm mười hai thuyền. – Chị nói. – Anh đốt mười năm chưa chắc đã xong.
– Ừ. – Hắn nói.
Hai mươi ba tháng Chạp, Khe Vôi rét căm, gió bấc thổi từ thượng nguồn về.
Lò Cả đỏ lửa từ hôm hai mươi. Bên cạnh nó, một cái lò mới xây xong hồi tháng Mười một, đá hộc còn trắng, gọi là Lò Nhẫm. Cả làng góp đá, góp công xây. Ông trưởng làng Ẩn đặt tên. Không ai cãi.
Tạ Uyên ngồi trên khúc gỗ trước cửa Lò Cả, nhìn khói. Khói trắng. Đá đang nhả hơi. Hắn không còn cảm được lửa trong lò như cảm mạch đập trong cổ tay mình nữa. Hắn phải nhìn khói, nghe tiếng than reo, đặt bàn tay trần lên vách lò mà đoán, như mọi người thợ vôi. Mấy mẻ đầu, có mẻ ra vôi gan gà. Bây giờ thì hết.
Hắn ho. Một tràng ho khan, ngắn. Bụi vôi. Gần nửa năm hít bụi vôi bằng một cái phổi người thường, hắn đã bắt đầu ho như ông Nhẫm.
Con bé Ấm ngồi cạnh hắn, quấn trong cái áo bông mới chị Ngát may, đúng cỡ, không phải xắn tay. Nó sáu tuổi tám tháng, Luyện Khí tầng hai. Mùa rét này nó chưa lên cơn lần nào. Đêm nó vẫn thích nằm dựa vách Lò Cả, bảo ấm hơn chăn.
– Chú ơi, trắng rồi. – Nó chỉ lên miệng lò.
– Chưa. Còn xám.
– Mắt chú đểnh đoảng.
Hắn không cãi.
Hắn đã kể với nó. Một buổi tối cuối tháng Mười, sau khi từ thành Ngũ Phong về, hắn ngồi trước cửa lò, kể với nó đêm Bến Mây. Kể chậm, bằng những chữ mà một đứa sáu tuổi hiểu được. Bố con chạy đi chém cái trụ đá để cứu cả cái bến, cứu cả mẹ con. Chú đánh vào lưng bố con. Chú không biết bố con định làm gì. Chú không hỏi.
Con bé ngồi nghe, không khóc. Nghe xong, nó hỏi một câu:
– Bố con có đau không?
Hắn nghĩ tới tiếng rắc khô dưới chân trụ đá, tới cái đầu quay về phía bến.
– Có. – Hắn nói. – Nhưng ngắn thôi.
Nó đứng dậy, đi về nhà chị Ngát, không nói một câu. Hắn ngồi trước cửa lò tới khuya. Gần canh ba, hắn nghe tiếng chân trần trên bãi đá. Con bé đi ra, ôm cái chăn, không nhìn hắn, đi vòng qua thân lò, nằm xuống ổ rơm ở phía bên kia, phía khuất gió, cách hắn cả một cái lò. Sáng hôm sau nó dậy, ngồi xếp bằng dẫn khí như mọi ngày. Nó không ngồi tựa lưng hắn nữa. Nó không cần nữa.
Từ hôm ấy tới giờ đã gần hai tháng. Nó vẫn nằm phía bên kia lò.
Chị Ngát đi xuống từ đầu làng, tay xách cái làn, trong làn có nồi cháo, mấy cái bánh chưng nhỏ gói thử cho Tết. Thằng Bõ chạy theo sau. Chị đặt cái làn xuống, múc cháo ra bát.
Ở quán nước của chị ngoài bến, trên cái cột cạnh chõng tre, từ hồi cuối tháng Bảy có treo thêm một thứ: một cái gương đồng rẻ tiền bằng lòng bàn tay, đã lau sáng, mặt sau có mấy chữ cào bằng mũi kim. Hắn đưa nó cho chị một buổi sáng sau đêm hai mươi ba, gói trong mảnh vải hoa bạc màu, không nói gì. Chị cầm nó, lật mặt sau, rồi quay đi, đứng nhìn sông rất lâu. Từ đó sáng nào chị cũng soi nó vấn khăn.
– Ông Khải Chính nhắn lên. – Chị nói, đưa bát cháo cho hắn. – Ra Giêng ông ấy lên lấy chuyến vôi đầu năm. Đê Bến Mây đắp được một quãng rồi. Ông ấy bảo Tết này ông ấy không lên được, lũ tháng Chín làm sụt cái kè, phải đắp lại. Ông ấy gửi cho con Ấm một túi cam.
– Ông nội con gửi cam à? – Con bé reo lên.
– Ừ. Cam Bến Mây. Cây cam cũ ở bờ đê, ông nội vun lại gốc, năm nay ra quả.
Con bé đón túi cam, bóc một quả, chia cho thằng Bõ một nửa. Hai đứa ngồi ăn, nước cam chảy xuống cằm.
Ăn xong, con bé đứng dậy, chùi tay vào áo. Nó tháo cái khóa bạc ở cổ ra, đứng trước mặt Tạ Uyên một lúc, cầm cái khóa trong tay. Từ tháng Ba tới giờ, đã gần mười tháng. Bạc lại đen. Con cá chép chỉ còn thấy được cái đường cong.
Nó chìa cái khóa ra.
– Chú lau cho con với. – Nó nói. – Tết rồi.
Tạ Uyên nhìn cái khóa trong bàn tay nhỏ, lạnh. Rồi hắn đặt bát cháo xuống, đứng dậy, đi vào lán, bốc một nắm tro trong bếp, nhúng ướt cho sệt.
Hắn ngồi xuống khúc gỗ, lấy cái giẻ thấm tro, chà. Mặt trước trước. Lớp đen bong ra, con cá chép trắng ngà hiện lên, từng cái vảy. Rồi mặt sau. Vòng gương, chín gợn sóng. Chữ khắc run run.
Con bé ngồi xổm bên cạnh, hai tay chống cằm, xem hắn lau. Gió bấc thổi qua bãi đá. Nó xích lại gần hắn một chút, rồi một chút nữa, tới khi vai nó chạm vào cánh tay hắn. Nó không nói gì. Hắn cũng không.
Trên miệng Lò Cả, khói đã chuyển sang trong. Chỉ còn một làn hơi run run trong suốt, làm méo những mái nhà trắng vôi phía sau.
— Hết —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe