Chương 6: Hộp chốt cỡ lớn
Bữa cơm tối thứ Ba có đậu phụ rán chấm mắm tôm, rau muống luộc, một đĩa cá kho riềng bà Đính kho từ chiều và bát canh cua nấu với rau đay mà bà vẫn nấu dù đã sang đông, vì bà bảo trời lạnh thì càng phải ăn canh cua cho mát gan. Mâm cơm bày trên cái chiếu trải giữa sàn tầng hai, chỗ ngày xưa kê giường của mẹ cô. Uyên nhắn tin bảo đi sự kiện, không về ăn.
Chi đợi bố ăn xong bát thứ hai rồi mới nói.
– Bố. Đàn nhà ấy bảng chốt nứt. Một vệt ở quãng giữa, quanh Đô bốn. Chừng mười lăm chốt bị lỏng.
Bố cô đặt đôi đũa xuống. Ông cầm đũa bằng hai ngón còn cử động được của tay phải, ngón cái và ngón trỏ, khéo đến mức người không biết sẽ không nhận ra.
– Ừ.
– Con gọi hai chỗ rồi. Không có chốt cỡ lớn. Đặt thì hai tháng mới về. Không kịp.
– Ừ.
– Con xin bố cái hộp chốt trong hòm.
Bố cô không trả lời. Ông với lấy cái ấm, rót nước chè vào cái chén, rót chậm, nhìn dòng nước vàng sóng sánh.
– Không. – Ông nói.
– Bố để dành nó cho ai?
– Bố đã nói rồi. Không ai được lấy.
– Bố để dành cho cây đàn ấy phải không?
Cái chén khựng lại giữa đường lên miệng. Bà Đính đang gắp miếng cá cũng dừng tay. Chi biết cô vừa đánh trúng. Cô nhìn thấy nó trên khuôn mặt bố, cái cách hai bên quai hàm ông căng ra, cái cách ông chớp mắt hai lần rất nhanh.
– Con ăn cơm đi. – Ông nói.
– Con không ăn nữa. – Chi đẩy bát ra. – Bố. Cụ Thụy trả con chín mươi triệu. Cụ muốn cây đàn kêu được trong ngày giỗ ông Lâm. Con nhận rồi. Con không biết giữa bố với nhà ấy là chuyện gì, bố không bao giờ nói. Nhưng con biết nếu bây giờ con không thay mười lăm cái chốt ấy, thì đàn lên dây hôm nay, ngày mai lạc. Hôm giỗ người ta ngồi nghe một cây đàn kêu như cái nồi thủng. Bố muốn thế à?
– Con ranh. – Bà Đính đặt đôi đũa xuống mâm, đánh cạch một cái. – Mày nói với bố mày bằng cái giọng ấy à?
– Cháu xin lỗi bà.
– Xin lỗi bà làm gì. Bà có làm gì đâu. – Bà quay sang con trai. – Còn mày, Khải. Cái hộp ấy mày giữ làm gì? Để làm của hồi môn cho con bé à? Mày giữ cái hộp chốt, bà giữ cái khuôn bánh nhà người ta, từ hồi mày đi tù bà nhét vào thùng gạo, bà chưa vứt đấy. Nhà này giữ của nhà ấy đủ thứ rồi. Nó cần thì đưa cho nó.
Chi quay sang bà. Cái khuôn bánh. Cái khuôn gỗ thị khắc cành chi mà cụ Thụy nhắc tới thứ Ba tuần trước. Nó nằm trong thùng gạo nhà cô, ngay dưới gầm cầu thang, chỗ cô xúc gạo nấu cơm mỗi ngày.
Bố cô ngồi im rất lâu. Cái máy đếm nhịp ở dưới xưởng đã hết dây cót từ lâu, cả căn nhà chỉ còn tiếng xe máy chạy qua đầu ngõ và tiếng cái quạt sưởi kêu tạch tạch. Rồi ông đứng dậy, đi vào phòng.
Tiếng nắp hòm gỗ kêu kẽo kẹt.
Ông quay ra, tay trái cầm một cái hộp gỗ nhỏ cỡ hộp bút, màu nâu bóng vì tay người cầm qua nhiều năm. Ông đặt nó xuống chiếu, cạnh bát canh cua, rồi ngồi xuống chỗ cũ. Ông rút trong túi áo ra một mẩu bút chì, lật mặt sau tờ lịch bóc trên tường xuống, và bắt đầu vẽ bằng tay trái. Nét vẽ run, nhưng rõ. Một hình chữ nhật dài là bảng chốt. Những chấm tròn là chốt. Ông khoanh một vùng ở giữa.
– Từ Đô bốn xuống Sol ba. – Ông nói. – Mười tám chốt, không phải mười lăm. Hai cái ở mép vết nứt bây giờ chưa lỏng nhưng sang năm sẽ lỏng. Thay luôn.
Chi nhìn tờ giấy. Rồi nhìn bố.
– Sao bố biết vết nứt ở đấy?
– Bố thấy nó từ năm hai nghìn mười. Lúc đấy mới chớm. – Ông vẫn không ngẩng lên. – Bố định sau Tết năm ấy làm.
Ông vẽ tiếp. Một cái chốt phóng to, bên cạnh ghi chú bằng chữ nhỏ.
– Chốt này không vặn vào được. Phải đóng. Lấy cái búa đầu đồng nhỏ, đóng nhẹ, mỗi chốt mười hai búa, không hơn. Đóng mạnh thì nứt thêm. Đóng xong thì vặn vào nửa vòng cho nó ăn gỗ rồi mới quấn dây. Dây cũ quanh chỗ ấy bỏ hết, thay dây mới, dây cũ quấn lại vào chốt to thì nó không ôm.
– Con biết đóng chốt mà bố.
– Con biết đóng chốt ở bảng chốt lành. Bảng chốt nứt khác. – Ông đặt bút chì xuống. – Con ạ. Đàn ấy ông Lâm mua năm chín lăm. Ông ấy đi xe khách xuống tận Hải Phòng xem đàn, ba lần mới mua. Bố là người khiêng nó vào nhà. Con làm thì làm cho tử tế.
Ông đứng dậy, đi xuống cầu thang. Một lúc sau, cô nghe tiếng cửa xếp dưới xưởng kéo lên rồi kéo xuống. Bố cô đi ra ngoài. Ông hay đi bộ một mình như thế những đêm không ngủ được, đi dọc ngõ ra phố, đi vòng quanh Văn Miếu, rồi về.
Bà Đính thu dọn mâm, không nói gì. Chi cầm cái hộp gỗ lên. Nắp trượt êm, như mới được tra sáp. Bên trong, hai trăm cái chốt thép đen bóng xếp thẳng hàng trên lớp mút xám, mười hàng, mỗi hàng hai mươi. Không thiếu cái nào.
Ở mặt trong của nắp hộp có một dòng chữ bằng bút chì, chữ K có cái đuôi dài.
"Phan Đình Phùng. Đô 4. Sau Tết 2011."
Mười một giờ đêm Uyên mới về. Lần này không có ô tô đưa đến đầu ngõ. Em gái cô đi bộ vào, khoác cái áo dạ màu kem, xách cái túi da có khoá vàng và một túi giấy to in chữ nước ngoài.
– Em mua gì đấy?
– Đồ.
– Đồ gì?
Uyên đặt túi giấy xuống bậc cầu thang, thở ra một hơi dài.
– Chị ơi, em đi làm cả ngày, em mệt lắm. Chị đừng hỏi kiểu công an được không?
– Chị hỏi vì sau Tết ông Bường lên tiền nhà mười bốn triệu. – Chi nói. – Học kỳ sau của em mười tám triệu, đóng trước rằm tháng Giêng. Chị đang tính. Nếu em có tiền mua đồ trong cái túi kia thì em đóng học được không?
– Được. – Uyên nói ngay. – Học kỳ sau em tự đóng. Chị khỏi tính.
Câu trả lời nhanh quá. Nhanh đến mức Chi thấy lạnh gáy.
– Em lấy đâu ra mười tám triệu?
– Em có lương.
– Lương thực tập sinh bao nhiêu?
– Chị ơi! – Uyên quay phắt lại, mắt đỏ lên. – Chị có biết từ năm sáu tuổi em đã nghe người ta gọi em là gì không? Con tù. Ở trường người ta gọi em là con tù. Đi học thêm, con nhà khác có bố đón, em có bà nội đạp xe đón, bà còn mặc cái áo bán chè. Em mười lăm tuổi đi làm thêm bưng bê. Em hai mươi tuổi đi phát tờ rơi. Bây giờ em mới có một việc tử tế, có người tôn trọng em, có người coi em ra gì. Em mua một cái túi thì chị hỏi em như hỏi kẻ trộm. Chị sống trong cái xưởng mùi keo này cả đời thì chị sống, đừng bắt em sống giống chị.
Nó xách túi chạy lên. Cánh cửa phòng đóng sầm. Chi đứng một mình dưới chân cầu thang, tay vẫn cầm cái hộp gỗ của bố. Cô đứng đó rất lâu. Rồi cô đi vào gầm cầu thang, mở cái nắp thùng gạo, thọc tay vào, khua một vòng. Gạo lạnh, khô, trơn. Ngón tay cô chạm vào một cái gì đó cứng, có cạnh, bọc vải. Cô ngập ngừng một lúc, rồi rút tay ra, đậy nắp thùng gạo lại. Chưa phải lúc.
Thứ Năm, An Uyên ngồi trong một quán cà phê bên hồ Tây, phía Quảng An, chỗ người ta đặt những cái ghế mây quay ra mặt nước. Trời âm u, gió hồ thổi lạnh buốt, nhưng Lưu Gia Bách thích ngồi ngoài, nên cô cũng ngồi ngoài. Anh cởi cái khăn len của mình quấn quanh cổ cô, buộc một cái nút lỏng, rồi ngồi xuống đối diện.
Gia Bách hai mươi lăm tuổi, trưởng nhóm tiếp thị của Kim Hoàng. Anh học bên Úc về, nói tiếng Việt còn lẫn vài từ tiếng Anh, cười rất dễ, và nhớ tất cả những gì cô từng kể. Anh nhớ cô thích trà gừng không đường. Anh nhớ cô sợ chó to. Anh nhớ tên bà nội cô, nhớ cả chuyện bà bán chè ở đầu ngõ. Ba tháng trước, khi cô nộp đơn xin thực tập ở Kim Hoàng, chính anh là người phỏng vấn cô, và chính anh là người gọi điện báo cô được nhận, giọng vui như người trúng số.
Cô không nói với ai trong nhà là cô thực tập ở Kim Hoàng. Cô bảo là công ty truyền thông. Một nửa là vì cô không muốn chị hỏi. Một nửa là vì Kim Hoàng làm bánh, và nhà cô thì có một chuyện với một nhà làm bánh khác, một chuyện cô chỉ biết lờ mờ, như người ta biết một vết sẹo trên người mình mà không nhớ bị từ bao giờ.
– Tuần sau team mình làm bao bì quà Tết cho đợt bán cuối. – Bách nói, đẩy cốc trà gừng về phía cô. – Anh muốn em trình bày phần màu sắc. Em có mắt thẩm mỹ hơn cả mấy đứa chính thức.
– Anh nói thế để em vui thôi.
– Anh nói thế vì đúng thế. – Anh cười. – Mà Uyên này, chị gái em dạo này vẫn đi lên dây đàn à?
– Vâng. Chị em chỉ biết làm có thế.
– Dạo này chị ấy làm ở nhà họ Tống bên Phan Đình Phùng phải không?
Uyên đang đưa cốc trà lên miệng thì dừng lại.
Chị cô không nói. Chị cô không bao giờ kể đi làm ở nhà ai. Ở nhà, cái tên Tống là cái tên không ai nhắc, như người ta không nhắc đến con rắn trong vườn. Cô nhìn Bách. Anh vẫn cười, vẫn cái nụ cười dễ dàng ấy, tay xoay xoay cái thìa trong cốc cà phê.
– Nhà họ Tống? – Cô hỏi lại. – Nhà Thụy Ký ấy à?
– Ừ. Nhà ấy.
– Sao anh biết?
– Bạn anh đi qua thấy. – Anh nói, rồi chuyển ngay sang chuyện khác, chuyện bao bì, chuyện màu đỏ năm nay nên đậm hay nhạt.
Uyên gật đầu, nghe, trả lời. Nhưng cô không nghe được gì. Cô ngồi đó, cái khăn len của anh quấn quanh cổ, ấm và thơm mùi nước hoa đàn ông, và cô tự hỏi bạn của anh là ai, đi qua Phan Đình Phùng làm gì, và làm sao người ấy biết mặt chị cô.
— Hết chương 6 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe