AI Truyện
Cây đàn câm trong nhà họ Tống

💞 Ngôn tình

Người kéo ba gác

Cây đàn câm trong nhà họ Tống · Chương 17/18 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 17: Người kéo ba gác

Hàng sửa xe đạp nằm dưới một gốc gạo già bên con đường bê tông chạy dọc chân đê, phía Đông Anh. Gốc gạo to đến ba người ôm, vỏ sần sùi đầy gai, cành trơ trụi chưa ra lá. Dưới gốc có một cái bơm tay, một cái chậu nước để thử săm thủng, một hộp gỗ đựng đồ nghề, mấy cái săm xe treo trên một cái đinh đóng vào thân cây. Ba chiếc xe đạp của học sinh dựng bên cạnh, một chiếc tuột xích.

Người đàn ông ngồi trên cái ghế gỗ thấp, đang lắp lại sợi xích. Ông gầy, đen, tóc cắt sát như tóc lính, mặc cái áo bộ đội cũ đã bạc màu. Bàn tay ông đen dầu mỡ, móng tay vàng khè. Khi Chi dựng xe máy và đi lại, ông ngẩng lên, nhìn cô rất lâu.

– Cô là con ông ấy. – Ông nói chắc nịch.

– Vâng ạ. Cháu là Chi.

– Mắt giống. – Ông gật đầu. – Tôi thấy ảnh ông ấy trên báo hồi xử án. Mắt giống hệt.

Ông lắp nốt sợi xích, quay thử bàn đạp cho xích chạy trơn, rồi lau tay vào cái giẻ. Ông kéo một cái ghế nhựa từ sau gốc cây ra, phủi bụi, đặt trước mặt cô.

– Cô ngồi. Tôi không có nước mời. Vợ tôi đi chợ chưa về.

Chi ngồi xuống. Gió từ mặt đê thổi xuống, lạnh, mang theo mùi rơm và mùi khói ai đó đốt lá. Trên đê, một đàn vịt lạch bạch đi qua, người chăn vịt đội nón lá vác cây sào dài.

Ông Phẩm không vòng vo. Ông ngồi trên cái ghế gỗ thấp, hai khuỷu tay chống lên đầu gối, nhìn xuống đôi dép cao su của mình, và kể.

– Dạo ấy tôi đi đồng nát. Ban ngày thu mua, ban đêm kéo ba gác chở sắt về bãi. Ban ngày ba gác không được chạy đường lớn, công an bắt. Đêm thì chạy được. Cái ba gác của tôi không có đèn. Có cái đèn pin buộc vào càng xe, mà đêm ấy hết pin. Tôi nghĩ đường vắng, chạy sát lề là được.

Ông dừng lại, cầm cái cờ lê nhỏ trong hộp đồ nghề lên, xoay xoay trong tay.

– Đến cái khúc cua ấy, tôi đang kéo thì đèn ô tô rọi tới từ phía đằng trước. Nó chạy không nhanh lắm, nhưng nó đến cua thì thấy tôi muộn. Tôi đi trong làn của nó. Tôi cứ nghĩ là tôi đi sát lề, nhưng mà tối quá, có khi tôi ra giữa lúc nào không biết. Nó bẻ lái tránh tôi. Bẻ mạnh quá. Nó lao sang bên kia, vào cây xà cừ.

Chi ngồi im. Tay cô nắm chặt hai bên mép ghế nhựa.

– Tôi bỏ cái ba gác, chạy lại. – Ông Phẩm nói. – Tôi chạy được mấy bước thì dừng. Cửa xe phía sau bật ra, cái đèn nhỏ trên trần xe sáng lên. Cô biết cái đèn ấy không. Cửa xe mở ra là nó tự sáng. Tôi đứng cách có hai chục mét. Tôi thấy rõ trong xe như ban ngày.

– Ông thấy gì ạ?

Ông Phẩm ngẩng lên. Lần đầu tiên từ lúc ông bắt đầu kể, ông nhìn thẳng vào cô.

– Ghế phụ có một ông to cao. Ông ấy gục vào bảng táp lô, không cử động. – Ông nói. – Ghế sau có một ông thấp, đang bò ra từ cái cửa vừa bật. Còn người ngồi ghế lái…

Ông dừng lại. Trên đê, người chăn vịt huýt một tiếng sáo dài.

– Người ngồi ghế lái là một đứa bé. – Ông Phẩm nói. – Mặt non choẹt. Mặc áo sơ mi trắng. Cổ thắt cái nơ đen. Nó gục đầu lên vô lăng, hai tay vẫn nắm vô lăng. Tôi nhớ cái nơ. Tôi nhớ vì lúc ấy tôi nghĩ thằng bé này đi đám cưới về.

Chi không nghe được gì nữa. Tai cô ù đi, như lúc bước vào phòng thu của anh Toàn, như lúc người ta lặn xuống nước. Cô thấy môi ông Phẩm vẫn mấp máy, thấy ông vẫn nói, nhưng phải một lúc lâu sau âm thanh mới quay lại.

– …rồi có cái xe thứ hai đến từ phía sau, đèn pha sáng trưng. – Ông Phẩm đang nói. – Tôi sợ. Tôi không có giấy tờ, ba gác không đèn, người ta mà biết là tại tôi thì tôi đi tù. Nhà tôi ba đứa con. Tôi chạy về kéo cái ba gác, chạy thục mạng qua cánh đồng. Tôi bỏ cả xe sắt ở bãi tha ma, hôm sau mới quay lại lấy.

– Ông có báo ai không ạ?

– Không. – Ông lắc đầu. – Mấy hôm sau tôi đọc báo. Báo viết tài xế bốn mươi hai tuổi. Tôi đọc đi đọc lại cái dòng ấy. Tôi nghĩ chắc báo viết nhầm. Rồi đến hồi xử án, báo đăng ảnh ông ấy, ghi là thợ sửa đàn. Ông ấy nhận hết. Ông ấy nhận cả chuyện tránh cái ba gác không đèn, nhưng ông ấy bảo không nhìn rõ người kéo. Tôi biết ông ấy nói dối. Ông ấy nói dối cho thằng bé. Và ông ấy nói dối cho cả tôi nữa.

Ông đặt cái cờ lê xuống hộp.

– Hôm xử án, tôi đi xe đạp lên toà. Tôi đứng ngoài cổng từ sáng đến chiều. Tôi không dám vào. Tôi nghĩ vào thì nói gì. Nói tôi là cái thằng kéo ba gác không đèn à. Nói người lái là thằng bé con à. Ai tin. Mà tin thì thằng bé ấy sao. – Ông nhìn ra mặt đê. – Thế là tôi về. Mười lăm năm. Năm nào đến cái ngày ấy tôi cũng không ngủ được.

– Sao bây giờ ông lại nói với cháu?

– Vì tôi già rồi. – Ông Phẩm nói. – Năm ngoái tôi mổ dạ dày. Nằm viện tôi nghĩ, tôi chết mà chưa nói thì cái câu ấy đi theo tôi xuống dưới. Tôi nợ ông ấy một câu. Là tôi. Cái ba gác không đèn ấy là của tôi. Cô về nói với ông ấy hộ tôi. Nếu ông ấy muốn gặp, tôi lên.

Chi về đến Hà Nội lúc bốn giờ chiều mà cô không nhớ mình đã đi đường nào. Cô chỉ nhớ gió ở cầu Nhật Tân thổi rất mạnh, có lúc cô phải nghiêng cả người cho xe khỏi chao.

Cô không về nhà. Cô không gọi cho Khiêm. Cô đi lang thang mấy vòng quanh hồ Gươm, ngồi trên một cái ghế đá nhìn mặt nước xanh đục, nhìn mấy đứa trẻ con chạy đuổi nhau. Một thằng bé chừng sáu tuổi mặc áo sơ mi trắng, thắt cái nơ đỏ, có lẽ vừa đi ăn cưới, bị mẹ kéo đi xềnh xệch. Chi nhìn theo cái nơ đỏ cho đến khi nó khuất.

Thứ Năm, cô đến biệt thự phố Phan Đình Phùng. Đã hai tuần từ ngày giỗ, cô hẹn với cụ từ trước Tết là sẽ quay lại kiểm tra xem bảng chốt có giữ được dây không. Đó là việc của thợ. Cô bám vào nó như người ta bám vào thành cầu.

Khiêm lên nhà máy. Bà Hà đi làm. Chỉ có bà Sen mở cổng.

Cô mở nắp đàn, gõ âm thoa, nghe. Cô thử từng nốt quanh vết nứt, từ Đô bốn xuống Sol ba. Mười tám chốt bố cô vẽ trên mặt sau tờ lịch. Không một nốt nào trôi. Hai tuần, qua mấy ngày nồm, qua cái Tết không có ai mở lò sưởi, cây đàn vẫn đứng đúng chỗ cô để nó.

Bố cô làm đúng. Bố cô bao giờ cũng làm đúng về một cây đàn.

Bà Sen bưng lên ấm chè. Bà đứng cạnh cô một lúc, nhìn cô lau phím.

– Bác Sen ơi. – Chi hỏi, không ngẩng lên. – Đêm ấy anh Khiêm mặc cái áo gì hả bác?

Bà Sen im một lúc.

– Sao cô hỏi thế?

– Cháu thấy ảnh. Anh ấy mặc sơ mi trắng, thắt nơ đen.

– Ừ. Cái áo trắng ấy. – Bà Sen nói chậm. – Đêm ấy tôi lên viện mang quần áo. Y tá đưa túi đồ của cậu ấy cho tôi. Cái áo trắng dính máu, cái nơ đen còn thắt nguyên trên cổ áo, người ta cắt ra mà không gỡ. Tôi định mang về giặt. Bà chủ không cho. Bà chủ bảo không được giặt, không được vứt. Bà chủ tự tay cất cả cái túi ấy lên gác xép. Mười lăm năm rồi, tôi không biết còn hay không.

Chi đặt miếng vải lau xuống.

– Sao cô Hà không cho giặt hả bác?

– Tôi không biết. – Bà Sen nói. – Tôi chỉ là người làm.

Nhưng bà nói câu ấy khác hẳn lần đầu tiên, cái lần trong phòng khách, khi bà gỡ tấm khăn phủ đàn. Lần này bà nói như người đã nhịn một câu rất lâu, và vừa để lọt ra một nửa.

Tối thứ Sáu, Chi ngồi trong xưởng.

Bố cô ngồi ở bàn làm việc, gọt nỉ. Cái máy đếm nhịp chạy đều. Bà Đính đã đi ngủ. Uyên ở trong phòng, mấy hôm nay nó ít ra ngoài, không đi Kim Hoàng nữa, không nhắn tin với ai, chỉ ngồi làm bài tốt nghiệp. Ngoài ngõ mưa phùn rơi lắc rắc trên mái tôn quán chè.

Chi đã ngồi như thế hai tiếng. Cô nhìn bố gọt nỉ. Cô nhìn bàn tay phải của bố, ba ngón cứng đơ đặt trên bàn giữ cái búa. Cô nhìn cái giá gỗ trên tường, cái lỗ trống bên trái.

Có những thứ bố cho người ta rồi. Cho rồi thì không đòi.

– Bố. – Cô nói.

– Ừ.

– Hôm thứ Tư con đi Đông Anh. Con gặp một ông tên Phẩm. Ông ấy sửa xe đạp. Mười lăm năm trước ông ấy kéo ba gác chở sắt vụn trên đường Sóc Sơn, không có đèn.

Con dao gọt nỉ dừng lại. Rồi lia tiếp. Một nhát. Hai nhát.

– Ông ấy bảo ông ấy nợ bố một câu. – Chi nói. – Ông ấy bảo cái ba gác ấy là của ông ấy.

Bố cô không nói gì. Con dao vẫn lia, nhưng chậm dần.

– Ông ấy bảo đêm ấy cửa sau xe bật ra, đèn trần sáng lên. Ông ấy nhìn thấy trong xe. Ông Lâm ngồi ghế phụ. Bố bò ra từ ghế sau. – Giọng cô run. Cô cố giữ cho nó đều, như giữ một sợi dây đàn đang kéo căng. – Còn người ngồi ghế lái…

Con dao dừng hẳn.

– Bố. – Chi nói. – Anh Khiêm lái phải không bố?

Bố cô ngồi bất động. Rồi ông đặt con dao xuống bàn. Ông vươn tay trái ra, chậm, như người đưa tay vào một cái chậu nước rất lạnh, và đặt ngón trỏ lên cái kim đồng của máy đếm nhịp.

Tiếng tích tắc tắt.

Trong cái im lặng ấy, chỉ còn tiếng mưa trên mái tôn đầu ngõ. Bố cô không nhìn cô. Ông nhìn cái kim đồng nằm im dưới ngón tay mình. Và ông không nói gì cả.

— Hết chương 17 —

Mục lục Cây đàn câm trong nhà họ Tống

  1. 1Ngày tháng viết bằng bút chì12 phút đọc
  2. 2Sáu mươi nhịp mỗi phút12 phút đọc
  3. 3Tờ giấy hồng năm Kỷ Mão11 phút đọc
  4. 4Bánh dẻo nhân hạt sen11 phút đọc
  5. 5Cô bác sĩ không ăn ô mai10 phút đọc
  6. 6Hộp chốt cỡ lớn10 phút đọc
  7. 7Tiếng rít ở nhà máy Bắc Ninh11 phút đọc
  8. 8Hai trăm triệu và một ngọn nến11 phút đọc
  9. 9Giỗ hai mươi ba tháng Chạp11 phút đọc
  10. 10Đêm hai mươi ba không ai ngủ10 phút đọc
  11. 11Bà quán nước đường Sóc Sơn9 phút đọc
  12. 12Chợ hoa cuối năm10 phút đọc
  13. 13Giao thừa ở hành lang tầng sáu10 phút đọc
  14. 14Mùng một nhà người lạ10 phút đọc
  15. 15Ghế lái lùi hết cỡ10 phút đọc
  16. 16Xin lỗi nhầm người10 phút đọc
  17. 17Người kéo ba gác9 phút đọc
  18. 18Tiếng La trong túi áo10 phút đọc

Về truyện này

Cây đàn câm trong nhà họ Tống là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Trang của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →