Chương 11: Bà quán nước đường Sóc Sơn
Tờ báo đã vàng như lá chuối khô, mép giòn, gấp làm tám. Khiêm mở nó ra trên nắp capô xe, lấy hai cái cốc cà phê giấy chặn hai đầu cho gió khỏi thổi bay.
– Bác Sen giữ. – Anh nói. – Tôi hỏi trong nhà có ai giữ báo cũ không, bác ấy đi vào phòng, lục gầm giường một lúc rồi mang ra. Bác ấy không nói vì sao giữ.
Sáng thứ Năm, hai mươi lăm tháng Chạp. Họ đứng ở một bãi đỗ xe ven đường đê, gần cầu Thăng Long, nơi Khiêm hẹn đón cô. Trời lạnh, gió sông thổi tạt. Chi cúi xuống đọc.
Bài báo nằm ở trang tám, mục tin tai nạn, dài chưa đến hai mươi dòng, không có ảnh.
"Khoảng 23 giờ 20 phút đêm 26/1, trên tuyến đường thuộc khu vực Sóc Sơn, xe ô tô bảy chỗ do anh M.Đ.K. (42 tuổi, trú tại Hà Nội) điều khiển đã bất ngờ lao vào gốc cây ven đường. Vụ tai nạn làm ông T.V.L. (44 tuổi), chủ một cơ sở sản xuất bánh kẹo lâu năm tại Hà Nội, ngồi ở ghế phụ, tử vong tại chỗ. Tài xế K. và con trai ông L. (17 tuổi, ngồi ở ghế sau) bị thương, được đưa đi cấp cứu. Kết quả kiểm tra cho thấy tài xế có nồng độ cồn vượt mức cho phép. Vụ việc đang được cơ quan chức năng điều tra làm rõ."
Chi đọc hai lần. Rồi cô gấp tờ báo lại theo nếp cũ, cẩn thận như gấp một cái gì dễ vỡ.
– Hai mươi dòng. – Cô nói. – Mười lăm năm của nhà tôi là hai mươi dòng ở trang tám.
– Nhà tôi cũng thế. – Khiêm nói.
Cô nhìn anh. Anh đứng tựa vào xe, hai tay đút túi áo khoác, nhìn ra mặt sông xám đục. Cô nghĩ đến câu anh nói đêm giỗ, ở đầu ngõ: mẹ tôi bảo bố tôi mất rồi. Cô nghĩ đến một cậu bé mười bảy tuổi mở mắt ra trong bệnh viện và nghe câu ấy. Cô không nói gì nữa.
Họ đi lên Sóc Sơn. Khiêm lái. Chi ngồi ghế phụ, tờ báo cũ đặt trên đùi. Qua cầu, đường rộng ra, xe cộ thưa dần. Hai bên là những dãy nhà hai ba tầng mặt tiền bán vật liệu xây dựng, bán cây cảnh, bán đồ gốm, rồi đến những cánh đồng lúa đã gặt từ lâu, gốc rạ khô cong, rồi những rừng bạch đàn thẳng tắp, thân trắng, lá rủ.
Đi được nửa đường, Chi nhận ra anh lái chậm dần.
Năm mươi cây số một giờ. Bốn mươi. Ba mươi. Những chiếc xe phía sau bấm còi, vượt lên. Hai tay anh nắm vô lăng chặt đến mức các khớp ngón tay trắng bệch. Trên thái dương anh có một giọt mồ hôi, dù trong xe đang bật sưởi không cao.
– Anh dừng xe đi. – Chi nói.
– Tôi không sao.
– Anh dừng xe đi.
Anh bật xi nhan, tấp vào lề, dừng lại trước một quán bán ngô nướng đã đóng cửa. Anh tắt máy. Hai tay anh vẫn đặt trên vô lăng, không buông.
– Mười lăm năm tôi không đi con đường này. – Anh nói. Giọng anh bình thường, nhưng hơi thở của anh thì không. Nhanh, nông, như người vừa leo cầu thang. – Tôi tưởng tôi không sao. Tôi tưởng chuyện ấy qua rồi.
Chi nhìn hai bàn tay anh trên vô lăng. Rồi cô làm một việc mà chính cô cũng không biết vì sao lại nghĩ ra. Cô gõ ngón tay xuống tờ báo trên đùi. Một tiếng. Một giây sau, tiếng nữa. Đều đặn. Cô tặc lưỡi theo, tắc, tắc, khẽ thôi, như tiếng cái máy đếm nhịp.
– Anh đếm theo tôi. – Cô nói. – Sáu mươi nhịp một phút. Thở ra bốn nhịp, thở vào bốn nhịp.
– Cô làm gì thế?
– Bố tôi bảo nghe tiếng này thì tay đỡ run. Bố tôi nói đúng. Anh đếm đi.
Anh nhìn cô như nhìn một người dở hơi. Rồi anh nhắm mắt lại. Cô gõ. Tắc. Tắc. Tắc. Anh thở ra. Bốn nhịp. Anh thở vào. Bốn nhịp. Ngoài cửa kính, một chiếc xe tải chở cát chạy vụt qua, làm cả chiếc xe con rung lên. Anh không mở mắt. Cô gõ tiếp. Hai phút. Ba phút. Đến phút thứ năm, hai bàn tay anh trên vô lăng lỏng ra. Các khớp ngón tay hồng trở lại.
Anh mở mắt.
– Cô gõ lệch một nhịp ở phút thứ ba. – Anh nói.
– Anh để ý cả cái đấy à?
– Hồi bé tôi tập đàn với máy đếm nhịp mười năm. – Anh nói, và khoé miệng anh nhếch lên một chút. – Cô gõ nhanh hơn sáu mươi. Chắc phải sáu mươi tư.
Chi phì cười. Anh nổ máy, cho xe chạy tiếp. Lần này anh lái năm mươi cây số một giờ, đều, không chậm lại nữa.
Chỗ ấy cách quốc lộ một đoạn, trên một con đường hai làn xe chạy qua một vùng đồi thấp. Nhờ tờ báo và trí nhớ của Khiêm về những gì mẹ anh kể lại, họ đi lui đi tới ba lần mới tìm ra: một khúc cua gắt, một bên là đồi bạch đàn, một bên là ruộng. Ngày xưa ở mép đường có một cây xà cừ cổ thụ. Bây giờ nó không còn. Chỗ gốc cây cũ là một đoạn hộ lan bằng tôn sóng sơn trắng đỏ, đã gỉ một mảng. Sát dưới chân hộ lan, có người dựng một cái am nhỏ bằng gạch, cao chừng đầu gối, trong am có một bát hương cắm đầy chân hương đỏ, mấy chân còn mới.
Chi xuống xe. Khiêm ngồi lại trong xe một lúc, rồi cũng xuống.
Họ đứng trước cái am nhỏ. Gió từ cánh đồng thổi qua lạnh buốt, mang theo mùi rơm rạ ẩm. Chi nhìn đoạn hộ lan, nhìn mặt đường, nhìn khúc cua. Cô cố hình dung ra đêm ấy: trời tối, mưa phùn hay không mưa, một chiếc xe bảy chỗ chạy từ phía đồi xuống, đến khúc cua thì lao thẳng. Cô không hình dung được. Cô chỉ thấy một con đường bình thường, một buổi sáng bình thường, mấy con sáo đen đậu trên dây điện.
– Hai người tìm ai?
Một bà cụ đứng ở bên kia đường, trước một cái quán nước dựng bằng tre lợp tôn. Bà thấp, lưng còng, quấn khăn len màu nâu kín cả đầu, chỉ hở khuôn mặt nhăn nheo như quả táo khô. Quán của bà có một cái chõng tre giống hệt chõng của bà Đính, một cái phích, mấy chai nước ngọt bày trên giá, một nải chuối treo lủng lẳng.
– Dạ, chúng cháu đi qua thôi ạ. – Khiêm nói.
– Đi qua thì không ai dừng lại nhìn cái am ấy lâu thế. – Bà cụ nói. – Vào đây uống cốc nước cho ấm.
Bà tên Thoảng, bảy mươi mốt tuổi, bán nước ở đây ba mươi năm. Bà rót cho họ hai cốc chè xanh nóng bỏng, đặt lên cái chõng, rồi ngồi xuống cái ghế con, nhìn họ bằng đôi mắt tinh như chim.
– Cái am ấy người ta dựng sau vụ đâm xe năm Canh Dần. – Bà nói, không đợi ai hỏi. – Đêm hai ba tháng Chạp. Chết một ông. Hai cô cậu hỏi chuyện ấy phải không?
Chi và Khiêm nhìn nhau.
– Bà nhớ đêm ấy ạ? – Chi hỏi.
– Nhớ chứ. Người ta chết trước cửa quán mình, ai mà quên. – Bà Thoảng nhấp một ngụm chè. – Đêm ấy giáp Tết, xe hàng chạy đêm nhiều, bà mở quán muộn. Hơn mười một giờ bà đang dọn thì nghe đánh rầm một cái. To lắm, như sét đánh. Bà cầm cái đèn pin chạy ra. Cái xe nó đâm vào cây xà cừ, đầu xe bẹp dí, khói bốc lên trắng xoá.
– Bà có thấy ai trong xe không ạ? – Khiêm hỏi. Giọng anh khàn.
– Bà không dám lại gần. Bà đứng bên này đường. – Bà chỉ xuống chỗ mình đang ngồi. – Có hai cái xe cơ. Cái đâm cây. Với một cái đi đằng sau, cách mấy chục mét. Cái đằng sau dừng lại trước. Một ông ở trong xe ấy chạy xuống, chạy đến cái xe đâm trước bà.
– Rồi sao ạ?
– Rồi bà thấy có người bò ra khỏi cái xe đâm. Một ông thấp thấp. Ông ấy lôi một người khác ra, lôi qua cửa, lôi ra đằng sau. Tối quá, bà không thấy rõ. Bà tưởng ông ấy cứu người.
– Cứu người nào ạ? – Chi hỏi. – Bà có thấy lôi ra từ cửa nào không?
Bà Thoảng nheo mắt, nhìn sang bên kia đường, nhìn cái am, như đang cố nhìn thấy lại một cái gì đã mười lăm năm.
– Không. Bà không thấy. Đèn pin của bà soi không tới. Bà chỉ thấy cái bóng. – Bà lắc đầu. – Bà già rồi, cháu ạ. Nhớ được đến đấy là may. Hôm sau công an xuống hỏi bà có thấy cái xe ba gác nào chạy qua không. Bà bảo không. Đêm ấy bà không thấy thật. Nhưng dạo ấy đêm nào cũng có một thằng kéo ba gác chở sắt vụn đi qua đây, đèn đóm chẳng có gì. Từ sau hôm ấy bà không thấy nó đi qua nữa.
– Thế bà có gọi cấp cứu không ạ? – Khiêm hỏi.
Bà Thoảng đặt cốc chè xuống. Bà im một lúc, rồi nhìn Khiêm, nhìn lâu, như lần đầu tiên thật sự nhìn anh.
– Cháu là con cái ông chết đấy phải không?
Khiêm gật đầu.
– Bà định gọi. – Bà Thoảng nói. – Bà chạy về quán lấy điện thoại. Thì cái ông ở xe đằng sau chạy sang. Ông ấy bảo bà: bà về đi, để tôi gọi cấp cứu, tôi gọi rồi. Ông ấy nói to, giọng như người quen ra lệnh. Bà sợ, bà về quán. Bà ngồi đợi.
– Bà đợi bao lâu ạ?
– Lâu lắm. – Bà Thoảng nói. – Bà ngồi đợi mãi. Gần nửa tiếng sau mới nghe tiếng còi xe cấp cứu. Từ bệnh viện trên kia xuống đây có mười phút thôi cháu ạ. Bà cứ nghĩ mãi. Người ta gọi rồi thì sao xe lại đến lâu thế.
Gió thổi qua cánh đồng, lật tung mấy tờ giấy vàng mã ai đó để lại dưới chân cái am.
Khiêm ngồi bất động trên cái chõng tre. Chi nhìn anh. Cô thấy anh đang nghĩ đến cùng một điều với cô. Từ năm ấy, nhà họ Tống kể lại câu chuyện đêm ấy với một nhân vật tốt: ông Phong đi xe sau, ông Phong dừng lại đầu tiên, ông Phong gọi cấp cứu, ông Phong cứu cả nhà. Trên đường đi anh đã kể với cô như thế, kể rằng mẹ anh dặn phải nhớ ơn ông Phong.
Bà Thoảng đứng dậy, rót thêm chè vào hai cái cốc đã cạn. Bà nói thêm một câu, không nhìn ai, như nói với cái phích nước.
– Cái ông xe sau ấy. Mười lăm năm rồi bà vẫn nhớ giọng. Ông ấy bảo bà để ông ấy gọi cấp cứu. Bà ngồi đợi mãi.
— Hết chương 11 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe