Chương 1: Ngày tháng viết bằng bút chì
– Cô đừng hắt hơi vào nó nhé. Cụ dặn thế.
Bà giúp việc nói xong mới nắm hai góc tấm khăn phủ, kéo chậm như người ta kéo chăn cho một đứa trẻ đang ngủ. Bụi rơi xuống thành một lớp mỏng trên sàn gỗ, mịn như bột nếp. Ánh sáng từ ô cửa sổ cao chiếu xiên vào, và An Chi nhìn thấy bụi bay lên lơ lửng trong vệt nắng, lâu lắm mới chịu lắng.
Đó là một cây đàn đứng vỏ gỗ óc chó, màu nâu sẫm như mật mía để lâu. Hai bên mặt đàn có hai cái chân đèn nến bằng đồng gập sát vào thân, loại chân đèn người ta làm cho đàn từ hồi chưa có điện trong mọi phòng. Nắp phím đóng. Trên nắp phím không có lấy một vết ngón tay.
– Bao lâu rồi không ai mở hả bác? – Chi hỏi.
– Mười lăm năm. – Bà giúp việc gấp tấm khăn làm tư, ôm vào bụng. – Cụ cấm. Đến cái khăn này cũng chỉ tôi được giặt, mỗi năm một lần, hôm rằm tháng Bảy.
Chi gật đầu, không hỏi thêm. Nhà nào có cây đàn bị bỏ quên thì nhà ấy có một câu chuyện, và câu chuyện ấy không phải việc của thợ.
Cô đặt hộp đồ nghề xuống sàn, cởi áo khoác. Ngoài trời mưa phùn từ sáng, nhưng trong phòng khách có một cái lò sưởi dầu, đặt cách cây đàn chừng ba mét. Ai đó trong nhà này biết đàn ghét hơi nóng phả thẳng vào.
Cô mở nắp phím. Tám mươi tám phím ngà đã ngả màu trà sữa, mấy phím ở quãng giữa hơi lệch, như hàm răng của người già. Cô ấn thử phím Đô giữa. Đàn kêu một tiếng khàn, đục, thấp hẳn so với chỗ nó lẽ ra phải ở. Cô ấn tiếp phím La bên trên, nghe tiếng dây rung, nghe cả tiếng gì đó lạo xạo ở dưới đáy đàn, rất khẽ.
– Nhà mình có nuôi mèo không bác?
– Không cô ạ. Cụ dị ứng lông.
– Thế thì dưới kia có chuột rồi.
Bà giúp việc rụt chân lại. Chi tháo tấm ván dưới, chiếu đèn pin vào. Ở góc trái có một cái tổ bện bằng nỉ vụn, giấy báo và mấy sợi len đỏ. Tổ đã cũ, không còn con nào. Nỉ vụn ấy chính là nỉ búa đàn, bị gặm dần qua bao nhiêu mùa đông.
Cô đứng dậy, tháo hai cái chốt gỗ hai bên, nhấc nắp trên của đàn ra.
Mặt trong vách nắp có chữ.
Chi đã thấy chuyện này ở nhiều cây đàn. Thợ lên dây có thói quen ghi ngày mình làm vào mặt trong của đàn, bằng bút chì, chỗ chủ nhà không nhìn thấy. Thợ sau mở ra là biết đàn đã qua tay ai, cách nhau bao lâu.
Nhưng nét chữ trong cây đàn này cô biết.
Chữ số bảy có gạch ngang ở giữa, kiểu viết bố học từ ông thầy dạy nghề người Hải Phòng. Chữ K viết liền một nét, cái chân dưới kéo dài ra như một cái đuôi. Dòng nào cũng giống dòng nào: ngày tháng năm, gạch nối, chữ K, gạch nối, "La 440". Cột chữ chạy từ trên xuống dưới, kín một khoảng gỗ rộng chừng hai bàn tay, rồi sang cột thứ hai, cột thứ ba. Năm 1995. Năm 1996. Tháng nào cũng có, không thiếu tháng nào.
Chi không cần đọc tiếp cũng biết dòng cuối cùng sẽ là năm nào. Nhưng cô vẫn đọc.
"20.1.2011 – K – La 440."
Bên dưới dòng ấy, gỗ để trống.
Cô đứng yên rất lâu. Ngoài cổng, một người bán xôi đạp xe qua, rao một tiếng rồi đi mất. Cô nghe tim mình đập ở hai bên thái dương.
Bố cô là Mạc Đình Khải. Bố cô lên dây đàn cho cả Hà Nội suốt hai mươi năm, đến khi bàn tay phải của bố không cầm nổi cái cờ lê lên dây nữa. Và trong tất cả những nhà bố từng đến, chỉ có một nhà mà bố không bao giờ nhắc tên.
Cô quay lại nhìn căn phòng mà nãy giờ cô chỉ coi như một căn phòng. Cái cầu thang gỗ uốn cong lên tầng hai, tay vịn đánh vecni bóng. Bậc thứ ba từ dưới lên có một vết sứt ở mép. Hồi mười một tuổi, cô đã ngồi trên đúng bậc ấy, chân đung đưa, đợi bố làm xong việc, và có một lần cô làm rơi cái hộp bút sắt xuống, sứt mất một miếng gỗ. Bố mắng cô cả đường về.
Trên tường đối diện cây đàn có treo một bức ảnh chân dung lồng khung gỗ. Một người đàn ông khoảng ngoài bốn mươi, mặt vuông, tóc chải ngược, mặc áo vest màu ghi, miệng cười như người vừa nghe một câu chuyện tiếu lâm. Trước bức ảnh có một bát hương nhỏ, ba chân hương đã tàn.
Ông Lâm. Chủ nhà bánh Thụy Ký. Người đã chết trong chiếc xe bố cô lái, đêm hai mươi ba tháng Chạp năm ấy.
– Cô ơi, cô làm sao thế? – Bà giúp việc hỏi. – Cô có cần nước không?
– Bác ơi. – Chi nghe giọng mình khô khốc. – Hôm thứ Năm bác gọi cho xưởng, bác bảo nhà cụ Thụy. Cụ Thụy là cụ Tống Văn Thụy phải không ạ?
Bà giúp việc không trả lời ngay. Bà nhìn xuống tấm khăn gấp trong tay, vuốt cho phẳng một nếp không cần vuốt.
– Cụ dặn tôi gọi đúng cái xưởng ấy, ở ngõ Văn Chương. – Bà nói. – Cụ bảo tôi đừng nói gì thêm. Tôi chỉ là người làm, cô thông cảm.
Chi muốn gập nắp đàn lại và đi thẳng ra cổng. Cô cúi xuống định đóng hộp đồ nghề, rồi tay cô lại làm cái việc nó đã làm hàng nghìn lần: gõ đầu âm thoa vào đầu gối, tì cái cán lên mặt gỗ của cây đàn.
Tiếng La vang lên.
Âm thoa cầm trên tay chỉ nghe khe khẽ, nhưng khi cái cán chạm vào gỗ, cả thân đàn thành cái loa. Âm thanh tròn, sạch, kéo dài, lan lên tận trần. Bốn trăm bốn mươi rung động mỗi giây, tiếng chuẩn của mọi cây đàn. Chi bấm phím La trên đàn cùng lúc. Hai âm thanh đè lên nhau, lệch nhau, đập vào nhau thành những nhịp ù ù như tiếng ong. Cây đàn này đã tụt gần nửa cung.
Trên cầu thang có tiếng chân dừng lại.
Chi ngẩng lên. Ở chiếu nghỉ giữa cầu thang, một người đàn ông đứng một tay nắm tay vịn. Anh cao, mặc áo len cổ lọ màu than, tóc còn ướt như vừa tắm. Anh không nhìn cô. Anh nhìn cái âm thoa trong tay cô, và mặt anh tái đi theo một kiểu mà Chi chỉ từng thấy ở người vừa đứng dậy quá nhanh sau khi ngồi xổm lâu.
Rồi anh bước xuống. Từng bậc một, chậm.
– Ai cho cô mở cây đàn này?
Giọng anh không to. Người Hà Nội có học thì ít khi nói to. Nhưng câu hỏi ấy làm bà giúp việc lùi về phía cửa bếp.
– Dạ, cụ cho gọi thợ, cậu Khiêm ạ. – Bà giúp việc nói. – Cụ dặn…
– Ông tôi không nói gì với tôi cả.
Anh đứng trước cây đàn. Anh cao hơn Chi gần một cái đầu, và anh nhìn xuống cái nắp đàn đang mở, nhìn cột chữ bút chì. Chi thấy cằm anh động một cái, như người đang nhai một miếng gì cứng.
Tống Gia Khiêm. Cô nhớ ra cái tên trước khi nhớ ra khuôn mặt. Năm cô mười một tuổi, anh mười bảy, cao lêu nghêu, tóc cắt cua, hay ngồi ở cây đàn này tập một bài gì đó rất nhanh, rất nhiều nốt. Anh từng đưa cho cô một cái bánh dẻo khi cô ngồi đợi bố trên bậc thang. Cô không nhớ gì thêm.
– Cô làm ở đâu? – Anh hỏi.
– Xưởng đàn ở ngõ Văn Chương.
– Tên cô?
– Mạc An Chi.
Anh quay hẳn sang nhìn cô lần đầu tiên. Mắt anh dài, đuôi hơi xếch, lông mày đậm. Cô đoán anh đang so khuôn mặt cô với một khuôn mặt khác, và cô biết anh sẽ tìm thấy nó, vì ai cũng bảo cô giống bố như đúc, từ cái trán dô tới cái cằm nhọn.
– Mạc. – Anh nhắc lại.
– Vâng. Mạc.
– Cô về đi.
– Tôi được người nhà anh gọi đến. Tôi chưa làm gì cả. Tôi mới mở nắp xem.
– Thế thì càng tốt. – Anh rút ví ra. – Tiền xem đàn bao nhiêu?
Chi nhìn cái ví da màu nâu trong tay anh. Cô thấy mình bình tĩnh lạ lùng, kiểu bình tĩnh của người đứng trên một tảng đá giữa dòng nước, biết rằng chỉ cần nhúc nhích là trượt.
– Xem thì không lấy tiền. – Cô nói. – Nhưng tôi nói để anh biết, đàn nhà anh có chuột làm tổ, nỉ búa quãng trầm bị gặm gần hết, dây bass rỉ, đàn tụt gần nửa cung. Để thêm một mùa nồm nữa thì gỗ đáy mục. Anh gọi ai đến làm cũng được. Đừng để thế.
Cô cúi xuống cất âm thoa vào hộp. Lúc cô ngẩng lên, anh vẫn đứng nhìn cái hộp đồ nghề, nhìn cái âm thoa nằm trên lớp nỉ xanh. Cái nhìn ấy kéo dài hơn mức cần thiết, đủ để Chi hỏi:
– Anh có chuyện gì với cái âm thoa à?
– Không. – Anh nói nhanh. – Cô đi đi.
Chi đóng hộp. Cô đã đi được ba bước về phía cửa thì nghe tiếng gậy gõ xuống sàn gỗ ở hành lang bên trong, đều đặn, một, hai, ba, như tiếng người gõ nhịp cho ai đó hát.
– Khiêm.
Một ông cụ chống gậy bước ra từ sau tấm bình phong sơn mài. Ông gầy, lưng hơi gù, mặc áo bông màu chàm, cổ quàng một cái khăn len xám. Mái tóc trắng cắt ngắn sát da đầu. Ông đi chậm, nhưng ông không vịn ai cả. Bà giúp việc chạy lại định đỡ, ông khẽ phẩy tay.
– Ông. – Khiêm nói. – Ông gọi người này đến à?
– Ừ. Ông gọi.
– Ông có biết cô ta là ai không?
– Ông biết rõ hơn mày.
Cụ Thụy đi qua mặt cháu trai, không nhìn anh. Cụ đi tới trước cây đàn, đặt tay lên cái nắp đang dựng, cúi đầu nhìn cột chữ bút chì như người ta nhìn vào một cái giếng. Cụ đứng như thế một lúc lâu. Rồi cụ quay ra, nhìn Chi từ đầu xuống chân, dừng lại lâu ở hai bàn tay cô, hai bàn tay có những vết chai ở đầu ngón và một vết sẹo nhỏ ở mu tay trái vì lần dây đàn bật.
– Cháu ngồi xuống đi. – Cụ nói. – Sen, pha cho ông ấm chè. Chè Thái, đừng pha chè ướp.
– Cháu xin phép về ạ. – Chi nói. – Anh nhà đây không muốn có người đụng vào đàn. Cháu hiểu.
– Thằng Khiêm không phải chủ cây đàn này. Bố nó mới là chủ. Mà bố nó thì không có ở đây để cấm ai.
Câu ấy làm cả phòng im bặt. Khiêm đứng đó, hai tay buông thõng. Chi thấy anh muốn nói gì đó, rồi lại thôi.
Cụ Thụy chậm rãi ngồi xuống cái ghế bành bọc vải nhung cạnh lò sưởi, đặt cây gậy ngang trên đùi. Cụ vẫy Chi lại gần. Cô không ngồi. Cô đứng cách cụ hai bước, hộp đồ nghề vẫn trong tay.
– Cháu làm được không? – Cụ hỏi. – Cây đàn ấy. Làm cho nó kêu lại được không?
– Được ạ. – Chi nói, vì đó là sự thật, và vì cô không bao giờ nói dối về một cây đàn. – Nhưng lâu. Phải làm hàng mấy tuần.
– Ông có thời gian. – Cụ nói. – Ông không có nhiều, nhưng mấy tuần thì có.
– Ông ơi. – Khiêm cất tiếng. – Ông cần thợ thì cháu gọi người khác. Hà Nội thiếu gì thợ.
– Hà Nội thiếu gì thợ. – Cụ Thụy gật gù, nhắc lại như nhắc một câu ca dao. – Nhưng chỉ có một cái xưởng mà thợ trong đấy biết cây đàn này từ khi nó còn mới. Mày ra ngoài đi, Khiêm. Ông nói chuyện với cô bé một lúc.
Khiêm không ra. Anh đứng tựa vào tay vịn cầu thang, khoanh tay. Cụ Thụy cũng không bảo lại. Cụ ngước lên nhìn Chi, và Chi thấy mắt cụ, hai con mắt đục mờ vì tuổi tác nhưng vẫn nhìn rất thẳng, không chớp.
– Cháu nhận ra nhà này từ lúc nào? – Cụ hỏi.
– Lúc cháu đọc chữ trong nắp đàn ạ.
– Không phải từ cái bậc cầu thang à?
Chi giật mình. Cụ cười, lần đầu tiên, để lộ hàm răng giả trắng quá mức so với khuôn mặt.
– Cái vết sứt ấy là của cháu. – Cụ nói. – Năm ấy cháu làm rơi hộp bút, bố cháu đứng dậy xin lỗi ông mãi. Ông bảo không sao, để đấy làm kỷ niệm. Mười lăm năm nay ông không cho ai sơn lại.
Chi không biết phải nói gì. Cô nhìn xuống bậc thang thứ ba, nhìn cái vết sứt hình tam giác nhỏ bằng móng tay, và cổ họng cô nghẹn lại vì một thứ cô không đặt được tên.
– Ông ơi. – Cô nói, cố giữ giọng cho đều. – Cháu không biết ông gọi cháu đến làm gì. Cháu chỉ biết sửa đàn. Chuyện giữa nhà ông với nhà cháu, cháu không có phần.
Cụ Thụy nhìn cô một lúc. Rồi cụ gõ cây gậy xuống sàn một cái, khẽ thôi.
– Cháu là con thằng Khải. – Cụ nói. – Ông đợi cháu lớn đủ để cầm cái cờ lê ấy lâu lắm rồi. Ông không mời cháu đến vì cây đàn đâu, cháu ạ.
— Hết chương 1 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe