Chương 3: Tờ giấy hồng năm Kỷ Mão
Sáng Chủ nhật hôm ấy, Tống Gia Khiêm không nói thêm câu nào. Anh nhìn bố cô thêm một lúc, gật đầu một cái rất khẽ, không rõ là chào hay là xác nhận một điều gì đó, rồi quay lưng đi ra đầu ngõ. Bố cô cũng quay vào xưởng. Cái cốc trà ông để quên trên bậc cửa, nguội ngắt đến trưa.
– Thằng nào thế? – Bà Đính hỏi.
– Con trai ông Lâm, bà ạ.
Bà nội cô đứng im một lúc. Rồi bà nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống rãnh, quay lại với cái bếp than, và cả ngày hôm ấy không nói với ai câu nào.
Tối thứ Hai, Chi ngồi tính lại cột số trên mặt sau tờ phiếu việc thêm một lần nữa. Rồi cô gọi cho bà Sen, bảo sáng thứ Ba cô sẽ đến xem kỹ và báo giá. Cô tự nhủ cô nhận vì tiền nhà, vì học kỳ sau của Uyên, vì một cây đàn tốt không đáng bị chuột gặm cho đến chết. Cô không tự nhủ lý do thứ tư, cái lý do khiến đêm thứ Bảy cô nằm nghe tiếng nắp hòm gỗ trong phòng bố. Cô muốn biết ông cụ ấy định nói gì.
Sáng thứ Ba trời hửng nắng. Hàng sấu trước cổng biệt thự đã rụng gần hết lá, cành khẳng khiu đan vào nhau trên nền trời xanh nhạt. Bà Sen mở cổng cho cô, nói cậu Khiêm đi làm từ sáu giờ, bà thì đi chùa, trong nhà chỉ có cụ. Bà nói câu ấy như người báo một tin tốt.
Chi tháo toàn bộ cơ đàn ra khỏi thân, đặt lên hai cái ghế đẩu bà Sen mang từ bếp lên. Cô kiểm tra từng búa, từng cái giảm âm, từng lò xo. Cô gõ nhẹ vào bảng cộng hưởng, nghe tiếng gỗ, áp tai vào thân đàn như bác sĩ áp ống nghe vào ngực bệnh nhân. Cô làm mất gần ba tiếng. Bà Sen bưng lên một đĩa bánh dẻo cắt làm tư và một ấm chè, đặt ở chiếc bàn con cạnh cửa sổ, rồi đi xuống. Chi không đụng vào.
Mười một giờ, cụ Thụy chống gậy đi ra.
– Thế nào? – Cụ hỏi.
– Làm được ạ. – Chi lau tay vào cái khăn vắt vai. – Thay toàn bộ nỉ búa, thay dây quãng trầm, thay nỉ giảm âm, sửa lại hai phím bị kẹt, kéo cao độ lên ít nhất ba lượt vì đàn tụt sâu, kéo một lần là đứt dây. Đánh lại vỏ thì cháu không làm, cháu chỉ lau. Tiền vật tư với tiền công là tám mươi sáu triệu. Hai mươi ba ngày công, phần búa với nỉ cháu mang về xưởng làm, còn ở đây thì thứ Ba, thứ Năm, thứ Bảy, có tuần thêm ngày.
– Tám mươi sáu. – Cụ nhắc lại. – Cháu tính cả tiền xăng xe chưa?
– Cháu tính rồi ạ.
– Cháu không tính. Ông biết cháu không tính. Thằng Khải ngày xưa cũng không bao giờ tính. – Cụ ngồi xuống cái ghế bành cạnh lò sưởi. – Ông trả chín mươi. Ông chỉ cần một điều: làm xong trước hai mươi ba tháng Chạp.
Chi đếm nhẩm. Hôm nay là hai lăm tháng Mười một âm lịch. Đến hai mươi ba tháng Chạp còn chưa đầy một tháng.
– Gấp lắm ạ. Hôm ấy có việc gì hả ông?
– Hôm ấy là giỗ thằng Lâm.
Chi đặt cái khăn xuống. Cô đã đoán, nhưng nghe cụ nói ra thì khác.
– Ông muốn có tiếng đàn trong ngày giỗ nó. – Cụ nói. – Mười lăm năm rồi nhà này cúng nó trong im lặng. Nó ghét im lặng. Hồi bé nó ăn cơm cũng phải bật đài.
– Ông ơi. – Chi ngồi xuống cái ghế đẩu đối diện, lần đầu tiên từ hôm thứ Bảy cô chịu ngồi. – Hôm trước ông bảo ông không mời cháu đến vì cây đàn. Thế ông mời cháu đến vì cái gì?
Cụ Thụy nhìn cô một lúc. Rồi cụ thò tay vào túi áo bông, lấy ra một cái phong bì giấy dó đã ngả vàng, mép sờn. Cụ rút ra một tờ giấy màu hồng gấp làm tư, mở ra chậm rãi, đặt lên mặt bàn con, lấy cái chén chè chặn một góc cho nó khỏi cuộn lại.
Tờ giấy viết bằng mực tàu, chữ quốc ngữ, nét bút lông đậm, thẳng. Chi đọc.
"Năm Kỷ Mão, ngày đầy tháng cháu Mạc An Chi, con anh Mạc Đình Khải và chị Lương Thị Nguyệt. Hai nhà Tống, Mạc thân nhau như ruột thịt. Nay hẹn ước: khi cháu An Chi trưởng thành, nếu hai cháu bằng lòng, nhà Tống xin rước cháu về làm dâu, kết duyên cùng cháu đích tôn Tống Gia Khiêm. Lấy chiếc khuôn bánh gỗ thị khắc cành chi làm tin. Người viết: Tống Văn Thụy."
Bên dưới có hai chữ ký. Một nét ký phóng khoáng, kéo dài, của ông Lâm. Một nét ký nhỏ, gọn, có cái đuôi chữ K kéo ra như cái đuôi. Của bố cô.
Chi đọc hết một lượt, rồi đọc lại. Cô không biết nên cười hay nên làm gì khác.
– Ông ơi, cái này là… – Cô tìm chữ. – Cái này là chuyện người lớn uống rượu đầy tháng nói đùa thôi ạ.
– Thằng Lâm nói đùa thật. – Cụ gật. – Nó bế cháu trên tay, cháu tè ướt hết áo sơ mi của nó, nó bảo con bé này phải về làm dâu nhà tớ để trả cái áo. Cả mâm cười. Bố cháu cũng cười. Chỉ có ông là không cười. Ông về lấy giấy bút viết luôn. Ông còn ngồi khắc cái khuôn mất ba đêm.
– Cái khuôn bánh ấy cháu chưa nhìn thấy bao giờ.
– Thế à. – Cụ không có vẻ ngạc nhiên. – Bà nội cháu cất đâu đó. Bà ấy là người cất của.
Chi gấp tờ giấy hồng lại theo nếp cũ, đặt vào tay cụ.
– Ông cất đi ạ. Cháu hai mươi sáu tuổi rồi. Anh Khiêm hôm thứ Bảy nhìn cháu như nhìn con chuột trong gầm đàn. Mà nhà cháu với nhà ông bây giờ…
– Bây giờ làm sao?
Chi không nói hết câu. Cụ Thụy cầm tờ giấy, không cất vội. Cụ nhìn ra cửa sổ, nhìn những cành sấu trơ trụi.
– Cháu ạ. – Cụ nói. – Bố cháu cao bao nhiêu?
Câu hỏi lạc đề đến mức Chi tưởng mình nghe nhầm.
– Dạ?
– Bố cháu cao bao nhiêu. Ông nhớ là thấp. Nhưng ông già rồi, nhớ không chắc.
– Một mét sáu hai ạ. – Chi nói. – Bố cháu thấp. Nhà cháu chỉ có Uyên là cao.
– Thế bố cháu đi xe máy có phải kiễng chân không?
– Có ạ. Cái xe số nhà cháu bố phải hạ yên xuống thấp nhất. – Chi nhíu mày. – Sao ông hỏi thế ạ?
– Không sao. – Cụ Thụy cất tờ giấy hồng vào phong bì, nhét vào túi áo. – Người già hay hỏi linh tinh. Cháu cứ làm đi. Chín mươi triệu. Ông bảo con Sen chuyển trước cho cháu một nửa.
Cụ đứng dậy, chống gậy đi vào. Chi ngồi lại một mình với cái đĩa bánh dẻo và ấm chè nguội. Cô cầm một miếng bánh lên ăn, không phải vì đói mà vì cần làm một việc gì đó với cái miệng để nó khỏi hỏi thêm. Bánh mềm, dẻo, nhân hạt sen bùi, mùi hoa bưởi thoang thoảng. Ngon. Ngon đến mức cô thấy bực.
Cùng lúc ấy, ở tầng hai cửa hàng Thụy Ký trên phố Hàng Đường, Tống Gia Khiêm đang ngồi nghe kế toán trưởng đọc những con số mà anh đã thuộc lòng.
Phòng họp nhỏ, kê một cái bàn gỗ lim dài mà ông nội anh mua từ năm tám mươi mấy. Qua cửa sổ nhìn xuống được cả dãy cửa hàng ô mai đỏ rực hai bên phố, người mua sắm Tết đã bắt đầu đông. Dưới tầng trệt, mùi đường thắng, mùi gừng, mùi vỏ quýt bay lên tận đây. Cái mùi ấy anh ngửi từ khi còn bé, và có những ngày như hôm nay, nó làm anh muốn mở toang cửa sổ cho bay hết đi.
– Nợ gốc vay xây nhà máy còn một trăm sáu mươi hai tỷ. – Chị kế toán trưởng nói, mắt không rời tờ giấy. – Lãi quý này đến hạn ngày mười lăm tháng Hai. Doanh số Trung thu năm ngoái giảm mười tám phần trăm so với năm trước nữa. Hàng tồn ở kho Bắc Ninh còn khoảng mười hai nghìn hộp bánh nướng, hạn sử dụng đến hết tuần sau.
– Tức là tuần sau phải tiêu huỷ. – Chú Định nói.
Tống Văn Định ngồi ở đầu bàn bên kia, ngả người ra ghế. Năm mươi ba tuổi, chú vẫn giữ được dáng người gọn và cái giọng sang sảng của người làm kinh doanh, nhưng mấy năm nay khuôn mặt chú bắt đầu có một vẻ gì như lúc nào cũng đang chờ một cuộc điện thoại.
– Chú nói thẳng nhé. – Chú Định đẩy một tập giấy về phía giữa bàn. – Bên Kim Hoàng gửi thư lần thứ hai rồi. Họ mua năm mốt phần trăm. Giá họ trả gấp rưỡi giá sổ sách. Họ gánh luôn khoản nợ nhà máy. Thương hiệu Thụy Ký giữ nguyên, cửa hàng Hàng Đường giữ nguyên. Chị Hà, cháu Khiêm, nhà mình cầm được tiền, rút ra được, còn hơn để ngân hàng nó siết.
– Kim Hoàng làm bánh trong dây chuyền, một ngày hai trăm nghìn cái. – Khiêm nói. – Chú nghĩ họ mua Thụy Ký để giữ cái lò ở Hàng Đường à?
– Chú nghĩ họ mua để làm gì là việc của họ. Việc của mình là đừng để mất trắng.
– Nhà máy là do cháu xây. Cháu chịu trách nhiệm. Cháu xin thêm sáu tháng.
– Sáu tháng. – Chú Định cười, không vui. – Lúc xây nhà máy cháu xin sáu tháng. Lúc chạy thử cháu xin sáu tháng. Năm ngoái cháu lại xin sáu tháng. Lãi ngân hàng thì không xin được sáu tháng đâu cháu.
Mẹ anh ngồi ở đầu bàn, từ đầu cuộc họp chưa nói câu nào. Nghiêm Thu Hà năm mươi sáu tuổi, tóc búi thấp, mặc áo dài nhung màu rượu vang dù trời rét, cổ đeo một chuỗi ngọc trai nhỏ. Từ năm chồng mất, bà điều hành Thụy Ký. Ngần ấy năm, nhân viên cũ vẫn gọi bà là "bà chủ" bằng cái giọng mà người ta dùng để gọi một vị thần không cười.
– Chuyện Kim Hoàng để sau Tết. – Bà nói. – Nhà Đoàn đã đồng ý ngồi lại với ngân hàng xem xét giãn nợ. Ông Đoàn hẹn tôi đầu tháng Chạp.
Bà quay sang nhìn Khiêm.
– Thứ Ba tuần sau con ăn trưa với Mỹ Hạnh. Mẹ đặt bàn rồi.
Khiêm không trả lời. Chú Định nhếch mép, gõ ngón tay xuống mặt bàn lim. Chị kế toán trưởng cúi xuống tờ giấy, giả như đang đọc một con số rất quan trọng.
– Còn một chuyện. – Chú Định nói, giọng chậm lại. – Anh Phong bên Kim Hoàng nhắn chị. Anh ấy bảo năm nay vẫn đến thắp hương anh Lâm như mọi năm, nếu nhà mình không phiền.
Mẹ anh đặt cây bút xuống bàn. Rất khẽ. Nhưng Khiêm thấy ngón tay bà trắng bệch ở khớp, như người vừa nắm một cái gì đó quá chặt.
– Nhà mình chưa bao giờ đóng cửa với khách đến thắp hương. – Bà nói.
Năm giờ chiều, Chi lắp lại cơ đàn vào thân để giữ cho nó khỏi bụi qua đêm. Cô đang quỳ trên sàn, cúi người siết con ốc cuối cùng thì nghe tiếng cổng sắt mở, tiếng giày cao gót trên lối đá, rồi tiếng cửa chính.
Một người đàn bà đứng ở ngưỡng cửa phòng khách. Áo dài nhung màu rượu vang, áo măng tô đen khoác ngoài, tay xách một cái túi da cứng. Bà đứng im, nhìn cái nắp đàn đang mở, nhìn hộp đồ nghề trên sàn, nhìn những búa đàn cũ xếp thành hàng trên tờ báo. Rồi nhìn xuống người con gái đang quỳ.
Chi đứng dậy, phủi đầu gối.
– Cháu chào cô. Cháu là thợ…
– Tôi biết cô là ai. – Bà Hà nói. Giọng bà không cao, không run, mỗi chữ rơi xuống như một hạt mưa đá. – Cô là con Khải.
– Vâng.
– Ai cho cô vào nhà này?
Phía trong hành lang có tiếng gậy gõ xuống sàn gỗ, đều đặn, một, hai, ba.
– Tôi. – Cụ Thụy nói.
— Hết chương 3 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe