Chương 5: Cô bác sĩ không ăn ô mai
– Em nói trước cho anh đỡ mất công. Em không muốn lấy anh.
Đoàn Mỹ Hạnh nói câu ấy khi người phục vụ còn chưa kịp đặt hai cốc nước lọc xuống bàn. Cô ngồi đối diện Khiêm trong một nhà hàng nhỏ trên phố Nguyễn Du, bàn kê sát cửa kính nhìn ra hồ Thiền Quang. Mặt hồ xám như chì, mấy cây liễu ven bờ rủ những cành trơ lá xuống sát nước. Mỹ Hạnh hai mươi chín tuổi, tóc cắt ngắn ngang cằm, mặt mộc, mặc áo khoác phao màu cam to sụ. Cô đến muộn mười phút, đi xe máy, và cô dựng ở chân ghế bên cạnh một cái lồng nhựa có tay xách. Trong lồng có một con mèo tam thể đang gầm gừ.
– Anh cũng không muốn lấy em. – Khiêm nói.
– Tốt. – Mỹ Hạnh gật đầu, như bác sĩ vừa nghe một kết quả xét nghiệm bình thường. – Thế thì mình ăn cho xong bữa này, mỗi người về báo cáo với mẹ là đang tìm hiểu, cần thời gian. Ba tháng sau báo không hợp. Anh thấy được không?
– Em làm việc này mấy lần rồi?
– Anh là người thứ tư. – Cô mở thực đơn. – Ba người trước đều muốn lấy em. Anh là người đầu tiên nói không. Em quý anh rồi đấy.
Khiêm phì cười. Từ sáng anh đã chuẩn bị tinh thần cho một bữa trưa dài, những câu hỏi về sở thích, về du lịch, về số con mong muốn. Mẹ anh dặn đi dặn lại phải lịch sự, nhà họ Đoàn đang là cái phao duy nhất giữa Thụy Ký và ngân hàng. Anh không chuẩn bị cho một cô bác sĩ thú y mang theo con mèo đang gầm gừ.
– Nó là bệnh nhân. – Mỹ Hạnh nói, thấy anh nhìn cái lồng. – Sáng em đi khám tại nhà, chủ nó đi vắng, nhờ em mang về phòng khám. Hai giờ chiều nó mổ. Em không gửi ai được. Anh không dị ứng lông mèo chứ?
– Ông nội anh dị ứng. Anh thì không.
– Thế là may cho anh.
Họ gọi món. Mỹ Hạnh ăn nhanh, gọn, như người quen ăn giữa hai ca mổ. Cô hỏi anh về nhà máy, về chuyện Kim Hoàng, không vòng vo. Bố cô ngồi trong hội đồng của một ngân hàng, cô nghe ông nói chuyện Thụy Ký ở bàn ăn đã mấy tháng nay. Cô bảo bố cô không ghét Thụy Ký, ông chỉ ghét rủi ro, và một cuộc hôn nhân thì trong mắt ông là một cách giảm rủi ro.
– Bố em coi lấy chồng như ký hợp đồng bảo đảm. – Cô nói. – Em thì coi lấy chồng như nuôi một con chó. Phải thích nó thật, vì mình sẽ dọn phân cho nó mười lăm năm.
Khiêm suýt sặc nước.
Đến món tráng miệng, người phục vụ mang ra một đĩa ô mai sấu gừng bày trên lá chuối, kèm ấm trà sen. Mỹ Hạnh nhìn đĩa ô mai rồi đẩy nó sang phía anh.
– Em không ăn ô mai. – Cô nói. – Nhìn thấy là ê răng. Hồi bé bà nội em bắt ngậm ô mai chữa ho, ngậm suốt mùa đông. Giờ ai đưa ô mai là em muốn ho.
– Nhà anh bán ô mai.
– Em biết. Em xin lỗi.
Cửa nhà hàng mở ra. Một người đàn ông to cao mặc áo khoác gió màu xanh rêu đi vào, nhìn quanh, thấy Khiêm thì đi thẳng tới. Phí Văn Lộc ba mươi ba tuổi, quản đốc nhà máy Bắc Ninh, bạn của Khiêm từ năm thứ nhất đại học bách khoa. Sáng nay xe Khiêm phải vào xưởng bảo dưỡng, Lộc chở anh về Hà Nội, hẹn đợi ngoài xe.
– Ông để quên điện thoại trên xe. – Lộc nói, đặt cái điện thoại xuống bàn. – Nó rung mười một lần rồi. Mẹ ông bốn lần, chú Định ba lần, còn lại là số lạ.
– Cảm ơn ông.
– Không có gì. Xin lỗi đã làm phiền hai người. – Lộc cúi đầu chào Mỹ Hạnh, rồi khựng lại vì tiếng gầm gừ dưới chân ghế. Anh cúi xuống nhìn cái lồng.
– Đừng thò tay vào. – Mỹ Hạnh nói. – Nó cào đấy. Nó vừa cào em sáng nay.
Lộc không thò tay vào. Anh ngồi xổm xuống, cách cái lồng chừng một gang tay, quay nghiêng mặt đi, rồi chớp mắt thật chậm về phía con mèo. Một lần. Hai lần. Con mèo tam thể ngừng gầm gừ. Nó nhìn anh qua song cửa lồng, rồi nó cũng chớp mắt thật chậm. Rồi nó nằm xuống.
Mỹ Hạnh nhìn anh như nhìn một con vật lạ.
– Anh học cái đấy ở đâu?
– Nhà tôi ở quê nuôi chín con mèo. – Lộc đứng dậy, gãi gáy. – Mẹ tôi bảo mèo chớp mắt chậm là bảo mình không có ý đánh nhau. Mình chớp lại thì nó tin.
– Bác sĩ thú y cũng biết chuyện ấy. – Mỹ Hạnh nói. – Nhưng chưa thấy ai làm nhanh được như anh.
– Làm nhiều thì quen thôi.
Lộc chào lần nữa rồi đi ra. Mỹ Hạnh nhìn theo cái lưng to bè của anh qua lớp cửa kính cho đến khi anh khuất sau một gốc cây. Rồi cô quay lại, bắt gặp Khiêm đang nhìn mình.
– Gì? – Cô hỏi.
– Không có gì. – Khiêm nói, kéo đĩa ô mai về phía mình, bỏ một quả vào miệng. – Anh chỉ đang nghĩ là ba tháng nữa mình báo không hợp, chắc mẹ em sẽ hỏi lý do.
– Thì em bảo anh không thích mèo.
– Anh thích mèo.
– Thế thì em nghĩ lý do khác. – Mỹ Hạnh đứng dậy, xách cái lồng lên. – Hai giờ em mổ. Cảm ơn anh vì bữa trưa, và vì đã không muốn lấy em.
Cũng hôm ấy, từ sáng sớm, An Chi ngồi trong một phòng thu nhỏ ở cuối một con ngõ dài trên phố Thái Hà, lên dây cho một cây đàn cánh đã hai mươi năm tuổi.
Phòng thu là của Kha Vĩnh Toàn, ba mươi tư tuổi, kỹ sư âm thanh, khách quen của xưởng nhà cô mấy năm nay. Toàn gầy, đeo kính cận dày, tóc lúc nào cũng bù xù như vừa ngủ dậy, nói nhanh và hay quên ăn. Phòng thu của anh nằm trên tầng ba một căn nhà ống, tường dán đầy những tấm mút xốp hình kim tự tháp màu xám, cửa sổ bịt kín, bước vào thì tai ù đi như đang ở dưới nước.
– Em lên dây cho anh trước mười giờ được không? – Toàn ló đầu vào từ phòng điều khiển. – Mười giờ có một ca sĩ đến thu.
– Anh hỏi câu ấy lần thứ ba rồi đấy.
– Thế à. Xin lỗi. – Anh rụt đầu lại, rồi lại ló ra. – Em uống cà phê không?
– Em không uống. Anh cũng đừng uống nữa, tay anh run kìa.
Chi lên dây xong lúc chín giờ bốn mươi. Toàn bảo cô ngồi lại đàn thử vài nốt để anh kiểm tra micro. Cô đàn một gam, mấy hợp âm, rồi đứng dậy. Toàn bấm nút cho cô nghe lại qua loa. Âm thanh tròn và sạch. Nhưng Chi nghiêng đầu.
– Anh bật cái gì trong phòng điều khiển thế? – Cô hỏi.
– Bật cái gì là sao?
– Có tiếng ù. Rất nhỏ. Ở dưới tiếng đàn. Như tiếng tủ lạnh.
Toàn nhìn cô qua cặp kính dày, rồi cười khùng khục.
– Tủ lạnh mini để nước. Nó ở trong góc phòng điều khiển, cách hai lớp tường. – Anh nói. – Anh đo được nó trên máy, nhưng anh tưởng không ai nghe ra. Ca sĩ thu ở đây năm năm chưa ai nhận ra.
– Thì em nhận ra.
– Tai em không tính. – Toàn đẩy kính lên. – Nhưng em nói đúng. Phòng nào cũng có một cái tiếng nền như thế. Tủ lạnh, quạt thông gió, tiếng điện chạy trong dây, tiếng xe ngoài đường lọt qua cửa. Mỗi phòng một kiểu, mỗi giờ một kiểu. Dân làm âm thanh gọi nó là dấu vân tay của căn phòng.
– Để làm gì ạ?
– Để bắt quả tang. – Anh nói, rất hào hứng, như mọi lần anh được nói về nghề. – Ví dụ có người cắt một câu ghi ở phòng này buổi sáng, ghép với một câu ghi buổi tối. Nghe bằng tai thường thì trơn tru. Nhưng tiếng nền đổi. Lúc sáng tủ lạnh đang chạy, lúc tối tủ lạnh nghỉ. Mở ra trên máy là thấy chỗ nối, rõ như vết hàn.
– Em nghe ra được không?
– Em á? – Toàn nhìn cô, lần này không cười. – Em thì có khi nghe ra thật. Lần sau có ai gửi em bản ghi âm nghi là ghép, mang đến đây anh mở cho mà xem.
Chi cười, bảo chắc cả đời cô không cần đến chuyện ấy. Cô cất đồ nghề, nhận tiền công, đi ra. Đến cửa, cô dừng lại.
– Anh Toàn này. Nếu có người chụp ảnh mình từ trong ô tô, ở bên kia đường, thì là gì nhỉ?
– Là có người muốn biết em đi đâu. – Toàn nói, không ngẩng lên khỏi bàn điều khiển. – Hoặc là em xinh. Em xinh à?
– Không.
– Thế thì là cái thứ nhất.
Buổi chiều, ở biệt thự phố Phan Đình Phùng, Chi đã tháo xong toàn bộ dây quãng trầm. Cô bắt đầu kiểm tra những cái chốt lên dây.
Chốt lên dây là những cái cọc thép nhỏ cắm vào một tấm gỗ dày gọi là bảng chốt, nằm khuất sau khung gang ở phía trên của đàn. Mỗi sợi dây quấn quanh một cái chốt. Muốn lên dây thì vặn chốt. Muốn dây giữ được cao độ thì cái chốt phải nằm thật chặt trong gỗ, chặt đến mức người thợ phải dùng lực cổ tay mới xoay được nó. Nếu bảng chốt lỏng, chốt sẽ tự xoay ngược dần dưới sức kéo của sợi dây, và đàn lên dây hôm nay thì mai đã lạc.
Cô đặt cờ lê vào từng chốt, xoay thử một chút, cảm nhận lực cản qua cổ tay. Quãng cao chặt. Quãng trầm chặt. Đến quãng giữa, quanh nốt Đô thứ tư, cô xoay thử một chốt và nó trượt đi dễ như vặn nắp chai nước.
Cô thử chốt bên cạnh. Lỏng. Chốt tiếp theo. Lỏng.
Cô lấy đèn pin rọi qua một lỗ trên khung gang, nghiêng đầu nhìn. Trên mặt gỗ bảng chốt, giữa hai hàng lỗ, có một vệt nứt mảnh như sợi tóc, chạy dài chừng một gang tay.
Chi ngồi bệt xuống sàn.
Không thay được bảng chốt. Thay bảng chốt là phải tháo cả khung gang, phải gửi đàn về xưởng, mất ba tháng, chi phí gấp đôi số tiền cụ trả. Cách duy nhất để kịp ngày giỗ là rút những chốt lỏng ra, thay bằng chốt cỡ lớn hơn, to hơn một chút, để chúng cắn chặt lại vào gỗ. Chốt cỡ lớn loại tốt bây giờ khó tìm. Cô gọi cho hai chỗ bán vật tư cô quen. Một chỗ hết hàng. Một chỗ bảo phải đặt từ nước ngoài, hai tháng mới về.
Cô ngồi trên sàn, cờ lê trong tay, nhìn cái vệt nứt.
Cô biết ở đâu có một hộp chốt cỡ lớn. Một hộp gỗ nhỏ, nắp trượt, bên trong là hai trăm cái chốt thép đen bóng xếp thẳng hàng trên lớp mút. Bố cô mua nó từ trước khi cô biết đọc. Nó nằm trong cái hòm gỗ sơn đen ở phòng bố. Năm cô mười bốn tuổi, lần đầu tiên tự lên dây một cây đàn có bảng chốt lỏng, cô đã xin bố cái hộp ấy. Bố cô nhìn cô rất lâu, rồi nói một câu mà cô nhớ đến bây giờ.
– Hộp ấy bố để dành cho một cây đàn. Không ai được lấy.
Cô đã không hỏi đó là cây đàn nào.
— Hết chương 5 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình🎧 Nghe