Chương 8: Người khách tháng Chín
O Lành là người thấy anh ta trước tiên, vì o đang ngồi lặt rau muống ngoài hiên quán, mặt hướng ra cổng tre nhà bên.
– O Thuần ơi! – O hét qua hàng rào. – Thằng nớ về! Thằng chịu tang ba con đó! Nó đứng ngoài cổng!
Châm đang ở chái đông, chân dừng đạp. Quyến đang gấp quần áo vào cái giỏ xách để chuẩn bị vô Sài Gòn, buông rơi cái áo đang cầm. Trà, sáng Chủ nhật không phải lên giảng đường, đang nằm đọc sách trên ván, bật dậy như lò xo.
Năm đó nhà vắng dần. Tiệm chụp hình chỗ Quyến làm đóng cửa từ tháng Bảy, chủ tiệm dọn vô Nha Trang. Tuyết sinh thằng Bắp hồi tháng Tám, xưởng may lại đang cần người tin cậy, nên gọi em gái vô phụ. Mùng Bốn Tết năm ấy ông Hoành vẫn tới, vẫn ngồi ở bộ ván, vẫn "Năm ni chưa có", "Thì năm sau". Chỉ có một điều khác: ông kể bà nhà ông dạo này hay đau, đi khám mấy nơi không ra bệnh, rồi ông ngồi im, uống cạn chén trà mà không ăn lát mứt gừng nào.
Anh ta đứng ngoài cổng thật. Gần năm năm rồi, Giáp không khác mấy: vẫn khuôn mặt vuông rám nắng, vẫn hai bàn tay đen sạm nứt nẻ. Chỉ có cái áo sơ mi là khác, áo màu xanh nhạt, cũ, đã giặt nhiều lần. Một tay anh ta xách cái can nhựa trắng đựng nước mắm, tay kia ôm một bọc giấy báo buộc dây chuối. Anh ta không mở cổng, không gọi, không bước vô. Chỉ đứng đó, như người đứng trước cửa chùa chờ ai cho phép.
Mạ đi ra.
Mạ đi chậm, qua sân gạch, qua gốc khế, tới cổng tre. Mạ không nói câu nào. Mạ mở cánh cổng, đứng trước mặt Giáp, rồi làm một việc khiến cả ba chị em đứng trên hiên sững lại.
Mạ đưa hai tay lên, áp vào hai bên má anh ta.
Giáp đứng im, hai tay vẫn cầm can nước mắm và bọc giấy báo, không dám cử động. Mạ giữ mặt anh ta như giữ một chiếc bát quý, rồi từ từ xoay nhẹ đầu anh ta sang trái. Ngón tay cái bên phải của mạ đặt lên chỗ trước vành tai phải của anh ta, ngay chỗ da nối với má, miết nhẹ một vòng. Mạ nghiêng đầu nhìn thật gần, gần tới mức trán mạ gần chạm vào thái dương anh ta.
Châm không hiểu. Chị đứng trên hiên, nhìn mạ, và trong một khoảnh khắc chị nghĩ mạ đang tìm một vết sẹo, một nốt ruồi, hay một thứ gì đó mạ đã từng thấy. Nhưng mạ không tìm được. Châm thấy rõ khi hai bàn tay mạ buông xuống, chậm rãi, rơi thõng hai bên người như hai chiếc lá rời cành.
Mạ đứng im một lúc. Rồi mạ nói:
– Vô nhà ăn cơm.
Trà quay sang Châm, thì thầm:
– Mạ làm chi rứa chị?
– Chị không biết.
Đó là sự thật. Châm không biết. Chỉ có một mảnh ký ức mờ mờ trôi qua đầu chị rồi tan ngay: một buổi sáng mùng Bốn Tết nào đó, Trà chạy vô bếp nói chuyện cái lỗ trước tai. Chị không nhớ là ai. Chị không nối được hai chuyện ấy với nhau. Chị chỉ thấy lạ, rồi thôi.
Bữa cơm trưa có canh chua cá lóc, cá cơm Sa Huỳnh kho tiêu, rau muống luộc chấm nước mắm Giáp mang tới. Nước mắm sóng sánh màu cánh gián, thơm tới mức Trà nhắm mắt lại hít một hơi. Giáp ngồi ở mép mâm, cạnh cửa bếp, ăn ít, gắp ít, cúi đầu.
Lần này mạ không giấu nữa. Trước khi ăn, mạ nói với Quyến và Trà:
– Đây là anh Giáp. Con nuôi của ba.
Hết. Không thêm, không giải thích. Quyến nhìn mạ, nhìn Giáp, rồi nhìn Châm. Châm cúi mặt vào chén cơm. Chị biết em gái đang nhìn mình, và biết em đang thắc mắc tại sao chị không ngạc nhiên.
Trà thì không có kiên nhẫn để ngạc nhiên lâu. Nó gắp cho Giáp một con cá, rồi bắt đầu hỏi.
– Anh năm ni bao nhiêu tuổi?
– Ba mươi hai. – Giáp nói. – Chắc rứa. Tui không biết chắc.
– Răng không biết chắc?
– Thì không ai biết chắc.
– Anh có vợ chưa?
– Có rồi. Có một đứa con gái, sáu tuổi.
– Ghe anh lớn không? Đi biển xa không? Một chuyến bắt được bao nhiêu cá?
– Trà. – Mạ nói. – Cho anh ăn.
Giáp nhìn Trà, khóe miệng giật giật, cái kiểu muốn cười mà không quen cười.
– Cô hỏi cũng được. – Anh ta nói. – Ghe tui dài mười hai mét. Đi biển đêm, ba bốn ngày mới về. Chuyến mô may thì được vài tạ cá cơm, chuyến mô xui thì về không.
– Về không thì sao?
– Thì nằm nhà, vợ chửi.
Lần này cả mâm cùng cười, kể cả mạ. Không khí dịu xuống. Quyến hỏi chuyện vợ con Giáp. Giáp kể vợ anh tên Sen, bán cá ở chợ, nóng tính nhưng thương chồng. Con gái anh tên Bé Muối, vì đẻ đúng mùa muối. Trà cười nắc nẻ, nói tên đó hay hơn tên của nó.
Sau bữa cơm, Giáp đứng ở giữa sân, ngửa mặt nhìn lên mái nhà rường rất lâu. Rồi anh ta quay sang mạ.
– Mạ… – Anh ta ngập ngừng, rồi sửa lại. – Bác cho tui leo lên coi cái mái. Tui thấy mấy hàng ngói phía tây bị xô. Sắp mùa mưa rồi, để rứa dột.
– Con leo được à?
– Tui leo cột buồm từ năm tám tuổi.
Mạ gật đầu. Châm đi lấy cái thang tre ra. Giáp cởi dép, leo lên, nhẹ nhàng và chắc chắn như một con mèo. Anh ta đi trên mái ngói liệt mà không làm vỡ một viên nào, ngồi xổm ở chỗ những hàng ngói bị gió đẩy lệch, sắp lại từng viên một, rồi gọi xuống xin thêm mấy viên ngói dự phòng mà ba vẫn cất dưới gầm cầu thang gác.
Châm leo lên nửa thang, đưa ngói cho anh ta. Từ chỗ chị đứng, chị nhìn thấy cả xóm Bao Vinh: những mái ngói rêu xám, những ngọn cau, dòng sông Hương chảy chậm ở phía xa, màu xanh đục như nước trà để nguội. Trời trong, nhưng phía tây có một dải mây đen mỏng nằm dài trên đỉnh núi.
– Anh Giáp. – Châm nói, khi đưa viên ngói thứ năm. – Ba nhận anh làm con nuôi từ hồi mô?
Giáp đặt viên ngói vào chỗ, ấn nhẹ cho khít. Một lúc lâu anh ta mới trả lời.
– Năm chín bốn. Ổng tìm tới tui.
– Tìm tới?
– Có một ông buôn gỗ vô xóm tui mua nhà cũ. Ổng nghe người ta kể tui mồ côi, quê ngoài Huế, nên ổng về kể cho ba chị nghe. Rồi ba chị vô.
Châm giữ chặt thanh tre của cái thang. Ông buôn gỗ. Chị không cần hỏi cũng biết là ai.
– Ba vô làm chi?
Giáp ngồi xổm trên mái, hai tay đặt trên đầu gối, nhìn ra phía sông.
– Ổng nhìn tui. – Anh ta nói. – Ổng nhìn tui lâu lắm. Như bác lúc nãy. Rồi ổng nói tui giống một người ổng mất.
– Người ổng mất là ai?
– Ổng không nói. Tui cũng không hỏi. – Giáp quay xuống nhìn chị. – Chị Châm, tui biết chị muốn hỏi chi. Tui không phải con riêng của ba chị đâu. Tui thề. Má nuôi tui ở Sa Huỳnh nói người ta đem tui từ Huế vô năm tui còn nhỏ xíu, không biết cha mẹ là ai. Ba chị cũng không phải cha tui. Ổng chỉ… ổng chỉ thương tui. Rứa thôi.
– Rồi ba cho anh tiền đóng ghe.
– Ghe cũ của tui bị bão đánh vỡ năm chín ba. Tui đi làm thuê một năm. Ba chị vô, thấy tui ngồi vá lưới cho người ta, ổng hỏi tui muốn chi nhất. Tui nói muốn có cái ghe. Ba tháng sau ổng vô lại, đem vàng vô, rồi ở lại mười ngày đục mũi ghe cho tui. – Giáp ngừng một chút. – Tui có biết đâu ổng đi vay. Tới đám ma, ông buôn gỗ đưa giấy, tui mới biết.
Châm không nói gì. Chị đưa thêm viên ngói nữa. Tay chị hơi run, viên ngói suýt rơi, Giáp chồm xuống đỡ kịp.
– Tui có đem vô ít tiền. – Anh ta nói nhỏ. – Để trả bớt. Mà tui sợ bác không nhận.
Mạ không nhận thật.
Chiều đó, trước khi Giáp ra bến xe, anh ta lấy từ trong túi áo ra một cái phong bì, hai tay đặt lên bàn trước mặt mạ. Mạ nhìn cái phong bì, rồi đẩy nó lại.
– Ba con cho thì là cho.
– Ba cho tui, nhưng ba đi vay. Nợ đó là nợ của tui.
– Nợ đó là nợ của mạ. – Mạ nói, và lần đầu tiên mạ xưng "mạ" với anh ta. – Không phải việc của con. Con để tiền đó mà nuôi con Muối.
Giáp ngồi im, hai bàn tay úp trên đầu gối. Rồi anh ta cầm phong bì lên, cho lại vô túi áo. Anh ta không cãi. Châm nghĩ, có lẽ anh ta cũng như chị, đã sớm hiểu rằng cãi với mạ là chuyện vô ích.
Lúc tiễn Giáp ra cổng, Quyến kéo Châm lại phía sau, thì thầm:
– Chị biết từ trước rồi phải không?
– Biết chi?
– Biết ảnh. Chị không ngạc nhiên chút mô.
Châm im một lúc.
– Chị biết từ năm chín lăm. – Chị nói. – Ảnh gửi thư cho mạ.
– Răng chị không nói với tụi em?
– Mạ dặn.
Quyến nhìn chị, đôi mắt đẹp nhất nhà mở to, có cái gì đó tổn thương trong đó.
– Chị lúc mô cũng nghe lời mạ. – Nó nói. – Chị không thấy mệt à?
Châm không trả lời được.
Giáp đi rồi, mạ đứng ở cổng tre rất lâu. Trà ra kéo tay mạ vô, mạ không đi. Mạ đứng đó, nhìn ra đầu kiệt, nơi Giáp đã khuất, nhìn ra con sông, nhìn lên dải mây đen giờ đã dày hơn phía tây. Châm đứng trên hiên nhìn mạ. Chị nhớ lại cái cách mạ áp hai tay lên mặt anh ta. Cái cách mạ xoay đầu anh ta. Cái cách ngón tay cái của mạ miết lên chỗ trước tai phải. Rồi hai bàn tay rơi xuống.
Chị không hiểu mạ đang tìm cái gì. Nhưng chị biết chắc một điều: mạ đã không tìm thấy.
Quyến định hai hôm sau lên tàu vô Sài Gòn. Nhưng Tuyết gọi điện về bên quán o Lành, nói xưởng đang dọn sang chỗ mới, Bắp mới hai tháng còn quấy đêm, Quyến khoan vô, đợi qua đầu tháng Mười Hai. Quyến hơi buồn nhưng cũng nhẹ người. Nó chưa bao giờ xa nhà quá ba ngày.
Tối đó, Châm ngồi đạp máy may thì nghe tiếng gõ nhẹ trên mái. Lộp bộp. Rồi dày hơn. Rồi đều.
Mưa.
Chị bước ra hiên. Mưa rơi xuống sân gạch, trắng xóa, bắn lên tận bậc thềm. Mấy viên ngói Giáp mới sắp lại phía tây kín mít, không một giọt dột. Mạ cũng đã ra đứng cạnh chị, tay cầm cây đèn dầu, ngửa mặt lên nhìn mái.
– Thằng nớ lợp khéo. – Mạ nói.
– Dạ.
– Giống tay ba con.
Hai mẹ con đứng nhìn mưa. Ngoài sông, gió thổi ngược vô, mang theo mùi nước đục. Châm nghĩ trận mưa này rồi sẽ tạnh, như mọi trận mưa tháng Chín khác.
Nó không tạnh. Nó rơi suốt đêm ấy, ngớt vài hôm, rồi lại rơi, mỗi ngày một nặng hạt hơn. Tới đêm hai mươi bốn tháng Chín âm lịch, đêm đầu tiên của tháng Mười Một dương lịch, thì không còn gọi là mưa được nữa. Đó là cả bầu trời đang đổ xuống Bao Vinh.
— Hết chương 8 —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe