Chương 11: Rước dâu bằng ghe ở Năm Căn
– Thằng nớ làm nghề chi? – Mạ hỏi qua điện thoại.
– Nuôi tôm, mạ.
– Nhà nó có cho vay lãi không?
Tuyết suýt bật cười. Chị đứng trong xưởng, ống nghe kẹp giữa vai và tai, tay vẫn cầm xấp vải.
– Không mạ. Nhà ảnh nghèo. Nhà ảnh có cái đầm tôm với cái ghe. Má ảnh ăn trầu.
Đầu dây bên kia im một lúc.
– Ừ. – Mạ nói.
Và thế là xong. Không cần bàn thêm. Tuyết nhớ lại cái hộp nhung đỏ của anh Quý con tiệm vàng năm nào, nhớ cái giỏ trái cây nhập, cái xe máy bóng loáng. Chị nghĩ, có lẽ cả đời mạ chỉ hỏi người ta đúng hai câu ấy. Làm nghề gì. Có cho vay lãi không.
Tết năm đó Út Rớt theo Quyến ra Huế ra mắt. Anh ta mặc bộ đồ vest mượn của ông anh rể, rộng thùng thình, đi đôi giày da cũng mượn, lớn hơn chân hai số, mỗi bước đi kêu lạch bạch. Mạ làm bánh khoái. Út Rớt ăn sáu cái, ăn tới cái thứ sáu thì toát mồ hôi, cởi áo vest ra, ngồi áo thun ba lỗ giữa gian giữa nhà rường. O Lành bên kia hàng rào nhìn qua, lắc đầu, rồi gật đầu, rồi lại lắc đầu, không biết nên chê hay nên khen. Lúc về, Út Rớt quỳ xuống lạy bàn thờ ba ba lạy, cụng đầu xuống nền gạch nghe cốp một tiếng. Mạ đỡ anh ta dậy, nhìn cái trán đỏ lên, rồi nói với Quyến:
– Thằng ni thật thà.
Quyến khóc vì mừng.
Đám cưới tổ chức vào thứ Bảy, hai mươi mốt tháng Ba âm lịch, ở Năm Căn.
Nhà gái đi gồm mạ, Châm, Trà, Tuyết, Khỏe và thằng Bắp gần hai tuổi. Mạ, Châm, Trà đi tàu từ Huế vào Sài Gòn trước bốn ngày, nghỉ ở xưởng Tuyết một đêm. Sáng hôm sau, cả nhà lên chiếc xe đò từ bến xe Miền Tây đi Cà Mau. Xe chạy từ năm giờ sáng tới gần ba giờ chiều, qua hai cái phà, qua những cánh đồng lúa xanh tới tận chân trời, những hàng dừa nước, những con kênh thẳng tắp như kẻ bằng thước. Khỏe ngồi ghế sau cùng, hắt xì liên tục vì bụi đường. Bắp ngủ, dậy, khóc, ăn, ngủ, rồi dậy ói lên áo Trà. Mạ ngồi bên cửa sổ, nhìn ra ngoài suốt chín tiếng, không ngủ, không nói.
Tới Cà Mau, cả nhà lên một chiếc ghe máy thuê để vào Năm Căn. Ghe chạy trên những con sông rộng mênh mông, nước màu nâu đỏ như nước trà sữa, hai bên là rừng đước, rễ đước chĩa xuống bùn như hàng ngàn cái chân nhện. Trời chiều, nắng nghiêng, những con cò trắng bay là là trên mặt nước. Không khí đặc mùi bùn, mùi muối, mùi cá.
– Trời đất ơi. – Khỏe nói, mở to mắt nhìn quanh. – Đây là đâu vậy bà xã? Mình còn ở Việt Nam hông?
– Mũi Cà Mau. Cuối đất nước. – Trà nói, giọng khoái chí. – Đi thêm chút nữa là ra biển.
– Ra biển rồi đi đâu?
– Rồi hết.
Khỏe nhìn ra mặt sông mênh mông, im lặng một lúc lâu.
– Con Quyến nó gan thiệt. – Anh nói.
Mặt trời lặn thì muỗi lên. Muỗi Năm Căn không giống muỗi Sài Gòn, không giống muỗi Huế. Chúng bay thành đám, to như con ruồi, đốt qua áo. Khỏe bị đốt đầu tiên, rồi nhiều nhất. Tới khi ghe cập bến Năm Căn, mặt anh sưng lên mấy cục, hai mắt híp lại, mũi đỏ chót, hắt xì không ngừng. Bắp nhìn ba, cười khanh khách.
Nhà gái ở tạm trong một nhà nghỉ nhỏ gần chợ Năm Căn, ba phòng, mỗi phòng một cái quạt trần kêu cót két và một cái mùng đã vá nhiều chỗ. Đêm đó Tuyết không ngủ được. Chị nằm bên Bắp, nghe tiếng ghe máy chạy trên sông suốt đêm, nghe tiếng muỗi vo ve ngoài mùng, nghe Khỏe rên khe khẽ bên cạnh vì ngứa. Phòng bên, chị nghe tiếng Quyến khóc thút thít, tiếng Châm thì thầm dỗ em.
Gần sáng, Tuyết dậy ra ngoài hiên. Mạ đã ngồi đó từ lúc nào, trên cái ghế nhựa, nhìn ra sông. Trời hửng, mặt sông chuyển từ đen sang xám bạc. Những chiếc ghe chở tôm, chở cá đã bắt đầu ra vào, tiếng máy nổ phành phạch.
Tuyết ngồi xuống cạnh mạ.
– Mạ không ngủ được à?
– Ừ.
Hai mẹ con ngồi im một lúc. Rồi Tuyết hỏi, câu hỏi chị đã định hỏi suốt hai ngày đường.
– Mạ. Con muốn đi tìm anh Ân. Đi thật. Không đăng báo nữa. Đi vô Phú Cam, đi hỏi từng người già.
Mạ không quay sang.
– Đừng tìm nữa.
– Răng mạ?
– Tìm được người không phải thì khổ người ta.
Tuyết im. Chị biết mạ đang nói về ai. Anh Giáp, người đàn ông mà ba tin là con trai mình, người mà ba đi vay sáu cây vàng để đóng ghe, người mà mạ áp tay lên mặt rồi buông xuống.
– Mạ có nghĩ anh Giáp là anh Ân không? – Chị hỏi.
Mạ im rất lâu. Ngoài sông, một chiếc ghe chở đầy dừa nước chạy ngang, người đàn ông đứng lái cất tiếng hát vọng cổ, giọng khàn khàn, nghe không rõ lời.
– Mạ nghĩ cái chi thì cũng không đổi được cái chi. – Mạ nói. – Thằng Giáp vẫn là thằng Giáp. Nó tốt. Ba con thương nó. Vậy là đủ.
Đó là câu dài nhất mạ nói với Tuyết trong suốt chuyến đi.
Đám cưới diễn ra buổi trưa. Nhà trai đi rước dâu bằng ghe. Hai chiếc ghe gỗ lớn, mui sơn xanh, trang trí bằng những dây kim tuyến đỏ, những chùm bong bóng, những cành dừa nước kết thành cổng hoa ở mũi ghe. Trên ghe đầu, một cái loa to đùng mở nhạc đám cưới hết công suất, vang dội cả khúc sông. Út Rớt đứng ở mũi ghe, mặc bộ vest mới may lần này vừa người, cổ thắt cà vạt đỏ, đầu chải keo bóng lộn, tay cầm bó hoa hồng. Phía sau anh ta là bà Tư Kiểng.
Bà Tư Kiểng sáu mươi mốt tuổi, người nhỏ, đen, chắc như cây đước, tóc búi củ hành, miệng nhai trầu đỏ quạch. Bà đứng ở mũi ghe, chống nạnh, nhìn sang đoàn nhà gái đang đứng trên bến, nhìn từng người, từ mạ, sang Châm, sang Tuyết, sang Trà, sang Khỏe mặt sưng vù, rồi nhổ một bãi nước trầu xuống sông.
– Nhà gái ít người dữ hen! – Bà nói to, giọng như lệnh vỡ. – Ngoài Huế vô có nhiêu đây hả?
– Dạ. – Mạ nói. – Nhiêu đây.
Lễ rước dâu làm trên ghe. Rồi hai chiếc ghe chở cả nhà trai lẫn nhà gái chạy ngược con sông, rẽ vào một con rạch nhỏ, chạy thêm nửa tiếng giữa rừng đước, tới nhà Út Rớt. Căn nhà sàn lợp lá dừa nước, vách ván, nằm sát mép một cái đầm tôm rộng mênh mông như cái hồ. Dưới gầm sàn, nước vỗ ì oạp. Phía trước nhà, người ta dựng một cái rạp lá, kê hai chục cái bàn, khách khứa đã ngồi kín, rượu đế đã rót sẵn.
Tiệc cưới Năm Căn không giống bất cứ tiệc cưới nào Tuyết từng dự. Không có thực đơn in, không có người dẫn chương trình. Món ăn bưng lên liên tục, món nào cũng lạ, cũng nhiều, cũng bốc mùi biển: cua luộc chất đống trên mâm, tôm nướng, cá kèo kho tộ, ba khía muối trộn tỏi ớt, lẩu mắm với cả rổ rau đồng mà Tuyết không biết tên. Đàn ông uống rượu đế bằng chén, cụng chén, hét "một, hai, ba, dzô". Có người đứng dậy hát. Có người ngã khỏi ghế.
Bà Tư Kiểng ngồi cùng bàn với mạ. Bà gắp cho mạ một con ba khía to nhất, đặt vào chén, rồi khoanh tay nhìn.
– Sui gia ăn thử. – Bà nói. – Mà chắc ăn hổng được đâu. Mấy người ngoài Huế vô đây, ăn con ba khía là nhăn mặt. Dâu Huế ăn như mèo, tui nghe người ta nói vậy hoài.
Cả bàn im. Châm nhìn mạ lo lắng. Tuyết thì nắm chặt cái đũa, sẵn sàng cãi.
Mạ cầm con ba khía lên. Mạ bẻ càng, bẻ mai, mút sạch phần thịt muối mặn chát, cay xé lưỡi, không chớp mắt. Rồi mạ gắp thêm một con nữa, ăn tiếp. Ăn xong con thứ hai, mạ lấy khăn lau miệng, quay sang bà Tư Kiểng.
– Ba khía muối ba ngày là vừa. – Mạ nói. – Con ni muối bốn ngày, hơi mặn.
Bà Tư Kiểng há miệng. Nước trầu suýt chảy ra khóe môi. Bà nhìn mạ chằm chằm một lúc lâu, rồi đập tay xuống bàn đánh rầm.
– Trời đất ơi! Sui gia biết muối ba khía hả?
– Ở Huế có con ram. Cũng muối.
– Muối mấy ngày?
– Hai ngày.
– Vậy là sai rồi! Phải ba ngày!
Và hai bà già bắt đầu cãi nhau về chuyện muối con ram, muối con ba khía, muối bao nhiêu ngày, muối bằng muối hột hay muối bọt, cãi suốt bữa tiệc, cãi qua cả màn hát karaoke của mấy ông say rượu. Tuyết ngồi nghe, thấy mạ nói nhiều hơn cả một tháng ở nhà. Tới lúc tàn tiệc, bà Tư Kiểng nắm tay mạ, đưa cho mạ một miếng trầu têm sẵn. Mạ cầm, bỏ vào miệng, nhai. Hai bà già ngồi cạnh nhau nhai trầu, nhìn ra cái đầm tôm loang loáng nắng chiều.
Tuyết huých Châm.
– Chị có thấy mạ nhai trầu bao giờ chưa?
– Chưa.
– Em cũng chưa.
Trước khi nhà gái về, mạ gọi Quyến vào một góc nhà sàn. Tuyết đứng ngoài cửa, nhìn vào. Mạ lấy trong túi xách ra một chiếc nón gói giấy báo, giống như chiếc nón mạ đã đưa cho chị ba năm trước. Nón trắng, quai lụa màu xanh lá.
Quyến cầm nón, theo thói quen nâng lên ngược sáng. Ánh nắng chiều từ ô cửa sổ không cánh rọi vào lòng nón, hiện ra hình con đò, hàng tre, và con dế nhỏ dưới chỗ buộc quai.
Út Rớt đứng sau lưng vợ, cúi xuống nhìn.
– Con gì vậy em?
– Con dế.
– Dế hả? – Anh ta nhìn kỹ hơn, mặt nghiêm túc. – Ở đây dế nhiều lắm em. Tối nay anh bắt cho em một con.
Quyến bật cười, rồi khóc, rồi lại cười. Mạ đứng nhìn hai đứa, không nói gì, rồi quay ra.
Ghe nhà gái rời bến lúc gần tối. Quyến đứng trên cầu ván trước nhà sàn, mặc áo dài đỏ, đội chiếc nón mới, vẫy theo. Út Rớt đứng bên cạnh, một tay che muỗi cho vợ. Bà Tư Kiểng đứng phía sau, nhai trầu, giơ tay lên vẫy, vẫy mạnh tới mức cái búi tóc củ hành sổ ra.
Ghe chạy xa dần. Rừng đước khép lại. Tuyết ngồi ở đuôi ghe, ôm Bắp, nhìn về phía cái bóng áo đỏ nhỏ dần. Chị nghĩ tới căn nhà rường ở Bao Vinh. Sáu năm trước bốn chị em còn chung một mái nhà. Giờ một đứa ở Sài Gòn, một đứa ở cuối đất nước, con Trà rồi cũng sẽ lấy chồng, có nhà riêng. Người ở lại thật sự chỉ có một. Chị Châm.
Châm ngồi cạnh mạ ở giữa ghe, quay lưng về phía Quyến, không nhìn lại một lần nào. Tuyết biết vì sao. Chị Châm không nhìn lại được.
Ba tuần sau, khi mọi người đã về nhà, Tuyết đang ngồi đạp máy thì điện thoại xưởng reo. Đầu dây là chị Châm, giọng hơi lạ.
– Tuyết. Ông Hoành mới tới.
– Tới làm chi? Đâu phải Tết.
– Ông không đòi nợ. Ông nói bà nhà ông bệnh nặng lắm. Mấy năm nay bà đau mà không ai biết bệnh chi, giờ mới biết thì trễ rồi.
– Rồi răng?
Chị Châm ngừng một lúc. Tuyết nghe ở đầu dây bên kia có tiếng o Lành rao bún bò bên hàng rào, xa xa, quen tới mức chị thấy nhói trong ngực.
– Ông nói bà muốn ra Huế. Dịp Tết năm sau. Ông nói… – Chị Châm hạ giọng. – Ông nói bà muốn gặp mạ một lần.
– Gặp mạ? Bà với mạ quen nhau à?
– Chưa từng gặp. – Chị Châm nói. – Mạ cũng nói vậy. Mạ nói chưa từng gặp bà Hoành bao giờ.
— Hết chương 11 —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe