Chương 15: Cuộc cãi nhau dưới bốn cột cái
– Chị gửi cho em bao nhiêu? – Tuyết hỏi.
– Ba mươi triệu.
– Còn cho con Quyến?
– Ba mươi triệu.
– Chị lấy đâu ra sáu chục triệu?
Châm không trả lời. Chị ngồi trên ghế đẩu trước cái máy may, hai tay đặt trên đùi, nhìn xuống sàn gạch.
Tuyết đứng giữa chái đông, quay sang Quyến. Quyến ngồi ở cái ghế dài, chỗ năm nào bà Hoành đã nằm, mặt cúi gằm. Trà đứng dựa cửa chái, hai tay khoanh trước ngực, tóc buộc vội, chìa khóa xe máy còn móc ở ngón tay. Trong buồng, mạ đang nằm nghỉ, mới từ bệnh viện về hôm qua sau năm ngày điều trị viêm phổi.
– Chị Châm. – Tuyết nói, giọng run. – Sáu chục triệu đó là tiền chị để dành cho mạ. Tiền dưỡng già của mạ. Chị để dành mười ba năm. Mười ba năm chị may áo, từng cái một.
– Mạ còn có chị.
– Mạ còn có chị! – Tuyết bật lên. – Rứa còn chị? Ai lo cho chị? Chị gần bốn mươi tuổi rồi chị Châm! Không chồng, không con, không nhà riêng. Chị đưa hết cho tụi em rồi chị còn chi?
Châm vẫn nhìn xuống sàn.
– Còn cái máy may. – Chị nói.
Quyến bật khóc.
Năm hai ngàn lẻ tám là năm mọi thứ đổ cùng một lúc.
Tháng Sáu, cái khách sạn ở Đà Nẵng, khách hàng lớn nhất của xưởng Tuyết, đột ngột hủy đơn hàng ba ngàn bộ đồng phục, vì chủ đầu tư rút vốn. Tuyết đã nhập vải, đã cắt, đã may được một nửa. Ba ngàn bộ đồng phục in logo khách sạn, không bán được cho ai. Chị nợ đại lý vải hai trăm triệu. Tháng Chín, hai khách hàng ở chợ An Đông dồn đơn hàng xuống còn một phần ba. Người ta nói kinh tế khó, hàng tồn nhiều, không ai mua quần áo mới. Tuyết cho nghỉ năm người thợ. Khỏe đi làm thêm, chạy xe máy giao hàng thuê cho một cửa hàng điện thoại, mỗi ngày chạy tám chục cây số, tối về ho sù sụ.
Cũng tháng Chín, tôm ở đầm nhà Quyến chết. Bệnh đốm trắng. Chỉ trong ba ngày, cả đầm tôm hơn một hecta nổi trắng mặt nước. Út Rớt đã vay đại lý thức ăn một trăm năm chục triệu để thả giống vụ này, vay thêm ba dây hụi của mấy bà trong xóm. Giờ không còn con tôm nào. Bà Tư Kiểng ngồi trên cầu ván, nhìn ra cái đầm, nhai trầu suốt một buổi chiều không nói câu nào. Quyến gọi điện cho Tuyết, khóc tới mức không nói được.
Hai chị em ở hai đầu đất nước, cùng gọi về Huế. Không phải để xin tiền. Chỉ để khóc. Chị Châm nghe. Chị Châm không nói gì nhiều. Rồi một tuần sau, mỗi đứa nhận được một khoản tiền chuyển khoản, ba mươi triệu, không kèm một lời nào.
Đầu tháng Mười Một, mạ bị viêm phổi. Trà gọi điện báo, giọng lo lắng. Tuyết bỏ xưởng, bay ra. Quyến bỏ đầm, ngồi xe đò lên Sài Gòn rồi bay ra. Lần đầu tiên trong đời cả hai đi máy bay. Tới nơi thì mạ đã qua cơn nguy, đang truyền nước, nằm ở giường bệnh trong một phòng tám người, nhìn hai đứa con gái đứng ở đầu giường, nói đúng một câu:
– Tốn tiền máy bay.
Hôm qua mạ về nhà. Hôm nay, chiều Chủ nhật, bốn chị em ngồi ở chái đông, và Tuyết mới biết chuyện sáu chục triệu.
– Em sẽ trả lại chị. – Tuyết nói. – Em trả từng tháng.
– Em cũng vậy. – Quyến nói, nghẹn ngào. – Mùa sau tôm lên, em trả.
– Không cần.
– Cần! – Tuyết đập tay lên bàn máy may. – Chị lúc nào cũng "không cần". Chị học mạ cái câu đó. "Không cần." "Ừ." "Đi ngủ." Nhà ni ai cũng nói một chữ rồi thôi. Mười ba năm nay em chán lắm rồi!
– Chị Tuyết. – Trà gọi, giọng ôn tồn kiểu người làm ngân hàng đang hòa giải một vụ tranh chấp nợ. – Chị bình tĩnh. Mình tính lại. Tổng nợ của chị là hai trăm triệu, của chị Quyến là một trăm năm chục triệu cộng ba dây hụi. Tài sản đảm bảo…
– Mi im đi Trà! Đây không phải ngân hàng của mi!
Trà im. Châm vẫn ngồi đó, hai tay trên đùi.
Tuyết đi tới đi lui trong chái đông, giữa những tấm vải treo, những chiếc áo dài may dở của khách.
– Mà nói thiệt. – Chị nói, giọng chua chát. – Nhà mình xui từ đầu. Từ cái năm ba mất. Sáu cây vàng. Mười ba năm nay mạ trả bằng cái chi? Bằng hai câu "năm ni chưa có". Ông Hoành tới đòi, mạ không trả, ông không lấy, mà ông vẫn tới. Rồi sáu cây vàng đó đi đâu? Đi vô cái ghe của anh Giáp. Mà anh Giáp có phải anh Ân không? Không ai biết! Ba vay vàng cho một người mà ba chỉ đoán là con mình. Rồi mình trả nợ cho cái đoán đó cả đời.
– Tuyết. – Châm ngẩng lên. – Đừng nói ba rứa.
– Em nói sai chỗ mô? Ba đoán. Mạ không biết. Còn mình thì chẳng ai cho biết chi hết. Em biết chuyện anh Ân qua điện thoại, sau cả ba người. Em biết chuyện ba đục mũi ghe qua chú Ngạn. Cái nhà ni giấu em hết mọi thứ.
– Chị Châm biết anh Giáp từ năm chín lăm mà.
Câu đó không phải của Tuyết. Câu đó của Quyến. Quyến nói ra trong lúc đang khóc, nói như người ta buột miệng một câu đã mắc kẹt trong cổ quá lâu. Nói xong, Quyến đưa tay bịt miệng, mắt mở to hoảng hốt.
Chái đông im lặng. Tiếng gió ngoài sông thổi qua mái ngói, nghe như tiếng thở dài.
Tuyết từ từ quay lại.
– Cái chi?
Quyến lắc đầu, không nói được. Tuyết nhìn sang Châm.
– Chị Châm. Con Quyến nói cái chi?
Châm đứng dậy. Chị cúi xuống, kéo cái hộp thiếc đựng kim chỉ dưới gầm bàn máy may ra. Chị nhấc cái khay cuộn chỉ phía trên lên. Dưới đáy hộp, giữa những mảnh vải vụn, những cuộn chỉ cũ, những cái khuy lẻ, có một phong bì đã ngả vàng, mép sờn, chữ "Mạ" viết to trên đầu.
Chị đưa nó cho Tuyết.
Tuyết cầm lấy. Tay chị run khi rút lá thư ra. Chị đọc. Đọc chậm. Đọc lần thứ hai. "Tiền ba cho con, con ghi nhớ." "Con không dám về thăm vì sợ mấy chị buồn." Ngày tháng ghi trên đầu thư: tháng Tám năm chín lăm.
– Mười ba năm. – Tuyết nói. Giọng chị bỗng nhỏ lại, nhỏ tới mức đáng sợ. – Chị giữ cái ni mười ba năm.
– Mạ dặn chị đừng nói.
– Năm chín chín, sau lụt, em gọi điện hỏi chị. Em hỏi chị có biết chi từ trước không. Chị nói không. Chị nói chị cũng mới biết, đêm lụt.
– Chị nói thật. Đêm lụt chị mới biết anh Ân. – Châm nói. – Trước đó chị chỉ biết có anh Giáp. Chị tưởng anh Giáp là con riêng của ba.
– Chị nói dối em.
Tuyết nói câu đó không to. Không hét, không đập bàn. Chị chỉ nói, rất bình thường, như người ta đọc một con số trên hóa đơn. Và chính vì vậy mà Châm lùi lại một bước, như vừa bị tát.
– Chị chưa bao giờ nói dối ai. – Tuyết tiếp. – Em tin vậy ba mươi bảy năm. Chị là người duy nhất trong cái nhà ni em tin không bao giờ nói dối.
– Tuyết…
– Mạ giấu, ba giấu, giờ chị cũng giấu. – Tuyết gấp lá thư lại, đặt lên bàn máy may. – Em là cái chi trong nhà ni rứa? Em là người ngoài à?
– Không phải rứa. – Quyến nói, nước mắt giàn giụa. – Chị Tuyết, em cũng biết từ năm chín chín, trước lụt hai tuần. Em cũng không nói với chị. Chị Châm xin em đừng nói.
– Còn mi! – Tuyết quay sang Quyến. – Mi ở chung với tau gần hai năm trong Sài Gòn! Gần hai năm! Mi ngủ cạnh thằng Bắp, mi ăn cơm tau nấu!
– Em xin lỗi chị.
– Xin lỗi! Nhà ni ai cũng xin lỗi rồi im!
– Chị Tuyết. – Trà bước vào giữa, lần này không dùng giọng ngân hàng nữa. – Chị muốn biết chi thì hỏi. Em không giấu chi chị hết. Em biết đúng những chi chị biết.
– Mi thì biết cái chi! Mi là con út, cái chi cũng có người lo cho!
– Rứa thì chị nghĩ em sung sướng à? – Trà nói, giọng vỡ ra. – Em mười lăm tuổi đứng ở đám tang ba, ôm con mèo vì không biết làm chi khác. Em hai mươi tuổi ngồi trên gác nghe nước vỗ dưới chân, đọc tên một người anh mà em không biết mặt. Em làm ngân hàng, em tính nợ cho người ta cả ngày, mà nợ của nhà mình em không tính được, vì không ai cho em con số. Chị nghĩ em biết nhiều hơn chị à?
Không ai nói gì nữa. Bốn chị em đứng trong cái chái đông chật hẹp, giữa những tấm vải treo, quay mặt đi mỗi người một hướng. Ngoài trời đã tối hẳn. Con mèo tam thể đi vào, nhìn từng người, rồi cuộn tròn dưới gầm máy may.
Rồi có tiếng dép lẹp xẹp trên nền gạch gian giữa.
Mạ đứng ở cửa chái. Mạ mặc cái áo bà ba màu nâu, khoác thêm cái áo len cũ của ba, tóc xõa, mặt còn xanh xao sau trận ốm. Mạ đứng đó, một tay vịn khung cửa, nhìn bốn đứa con gái. Không biết mạ đã đứng đó bao lâu, đã nghe được bao nhiêu.
– Mạ. – Châm kêu lên. – Mạ ra đây làm chi, mạ còn yếu…
Mạ giơ tay lên. Châm im.
Mạ không đi vào chái đông. Mạ quay lưng, đi chậm ra gian giữa, tới chỗ bốn cây cột cái. Mạ đứng ở giữa, đúng dưới cây thượng lương, ngửa mặt nhìn lên mái nhà tối. Bốn chị em lần lượt đi theo, đứng thành một vòng quanh mạ, mỗi người cạnh một cây cột.
– Tụi bây cãi nhau vì mạ. – Mạ nói. – Vì mạ không nói.
– Không phải vì mạ… – Quyến nói.
– Vì mạ. – Mạ nói. – Mạ biết.
Mạ im một lúc lâu. Gió ngoài sông thổi vào, làm cánh cửa gian giữa khẽ đung đưa, không phát ra một tiếng động nào. Cái cửa đã mười ba năm không kêu, từ cái buổi sáng mùng Bốn năm Ất Hợi có người thợ trẻ tới sửa.
– Mạ già rồi. – Mạ nói. – Có những chuyện mạ nói không ra. Ba mươi năm không nói ra. Bây giờ cũng không nói ra.
Mạ quay lại, nhìn Tuyết. Nhìn thật lâu.
– Muốn biết thì đi Sa Huỳnh mà hỏi. – Mạ nói.
Rồi mạ quay đi, chậm rãi, đi vào buồng, kéo tấm màn cửa lại sau lưng.
Bốn chị em đứng lặng dưới bốn cây cột cái. Không ai nhìn ai. Nhưng không ai bỏ đi.
Một lúc lâu sau, Tuyết là người đầu tiên lên tiếng. Chị không nhìn Châm, không nhìn Quyến, không nhìn Trà. Chị nhìn lên mái nhà, nơi trong bóng tối phía trên cái gác, có năm cái tên mà chị chưa từng tận mắt thấy.
– Trà. – Chị nói. – Mi có ngày phép không?
Trà ngẩn ra.
– Có. Mười hai ngày.
– Qua Tết, lúc mô xin phép được thì đi với tau. – Tuyết nói. – Mi biết đọc giấy tờ. Tau biết cãi.
— Hết chương 15 —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe