Chương 2: Năm ni chưa có
Con dế nằm ngửa trên tờ giấy pơ-luya, sáu cái chân co lại, một cái râu thẳng, một cái râu cong gập xuống như bị ai bẻ.
Đó là cái khuôn bằng gỗ mít, mỏng chừng hai ly, lớn hơn đốt ngón tay cái một chút. Mạ đặt nó lên giấy, giữ bằng ngón trỏ, rồi cầm cây kéo nhỏ mũi nhọn đi một vòng quanh mép gỗ, chậm và đều như người ta tỉa móng cho con nít. Một con dế giấy rơi ra, trắng mỏng, nhẹ tới mức hơi thở của Trà cũng làm nó lật.
– Mạ ơi, răng nón mạ con nào cũng có con dế?
– Dế thì dế. – Mạ nói. – Hỏi chi.
– Người ta cắt chùa Thiên Mụ, cắt cầu Trường Tiền, cắt cô gái chèo đò. Có ai cắt con dế mô. Khách mua nón soi lên thấy con dế, họ hỏi con hoài.
Mạ kẹp con dế giấy giữa hai lớp lá nón, ngay dưới chỗ sẽ buộc quai, rồi vuốt cho phẳng. Phải đưa chiếc nón lên ngược nắng mới thấy được nó, một cái bóng nhỏ màu sữa lẫn giữa những đường gân lá.
– Cái khuôn ni ba con đục năm mạ mười chín tuổi. – Mạ nói, không ngẩng lên. – Hồi đó ba con đi làm thợ ở nhà ông Thừa bên kia sông. Mạ ngồi chằm nón ngoài hiên. Chiều mô ba con đi ngang cũng bỏ vô rổ lá của mạ một cái hộp quẹt. Mở ra thì có con dế. Ba tháng trời, ba con cho mạ mấy chục con dế. Con mô cũng gáy to. Bà ngoại con ngủ không được, cầm chổi rượt ba con chạy ra tới bến đò.
Trà cười nắc nẻ. Con mèo tam thể trong lòng nó giật mình nhảy xuống.
– Rồi răng ba đục cái khuôn?
– Dế sống thì chết. Dế giấy thì còn.
Mạ nói xong thì cúi xuống chằm tiếp. Trà còn muốn hỏi nữa, nhưng nó thấy tay mạ hơi run khi xỏ cây kim qua lá, nên thôi.
Tết Ất Hợi đến sau đám tang của ba đúng bốn ngày. Nhà có tang thì không treo câu đối đỏ, không cắm hoa mai, không ai sang chúc Tết. Ngõ Bao Vinh mùng Một rộn tiếng pháo giấy của con nít, tiếng chào nhau "năm mới an khang", còn trước cái cổng tre nhà Châm chỉ có một mảnh giấy trắng dán lệch. Người quen đi ngang thì nhìn vô, gật đầu, rồi bước nhanh qua.
Bàn thờ ba bày một mâm cơm chay, một bình cúc vàng, và bọc cá cơm khô của người thanh niên lạ, giờ đã được Châm cho vào cái hũ sành đậy nắp. Không ai trong nhà nhắc tới anh ta. Nhưng mỗi lần thắp nhang, Châm đều thấy Tuyết liếc cái hũ ấy bằng một ánh nhìn không thiện.
Mùng Hai, con dâu o Lành ẵm thằng cháu nội mới đầy tháng sang xin ít nước sôi, vì bếp bên đó đang bận nấu nồi bún cho khách Tết. Thằng nhỏ khóc ré. Mạ đưa tay đỡ lấy. Ba chị em đang ngồi gian giữa, ngạc nhiên ngẩng lên: từ hôm ba mất, mạ chưa bế đứa con nít nào.
Mạ ôm thằng bé, đi qua đi lại dưới bốn cây cột cái, lưng hơi cúi, và ru. Giọng mạ khàn, thấp, không giống giọng ru Huế mà Châm vẫn nghe trên đài, cái giọng kéo dài như sông. Giọng mạ ngắn, đứt, như người vừa đi vừa thở:
– Ầu ơ… Con dế than mưa, than răng cho ướt cái bờ tre xưa. Mạ ru con ngủ cho trưa, mai con lớn dậy con chưa nhớ nhà…
Thằng bé nín. Mạ ru lại từ đầu, đúng bốn câu ấy, không thêm.
Quyến chống cằm nghe, mắt long lanh:
– Bài chi rứa mạ? Con chưa nghe bao giờ.
– Bài mạ đặt.
– Hồi nhỏ mạ có ru tụi con bài ni không?
Mạ đưa thằng bé trả cho con dâu o Lành. Rồi mạ đi xuống bếp, không trả lời.
Châm nhớ, mơ hồ, đã nghe giai điệu ấy một lần. Hồi Trà mới đẻ, chị mười tuổi, có một đêm nằm bên này vách nghe mạ ru em bên kia. Hôm sau chị hỏi, mạ bảo chị nằm mơ. Chị đã quên chuyện đó mười lăm năm, cho tới bây giờ.
Mùng Bốn, khoảng chín giờ sáng, chiếc xe tải màu xanh rêu lại đỗ trước cổng tre.
Tuyết đang quét sân, thấy xe thì dựng chổi vào gốc khế, đứng chống nạnh giữa lối đi như một bức tường. Ông Hoành bước xuống, hôm nay mặc áo sơ mi trắng bỏ trong quần, tay xách một hộp bánh in bọc giấy kiếng. Người đàn ông đội mũ lưỡi trai cũng xuống theo, lần này đứng tựa vào thùng xe, châm một điếu thuốc rê.
– Chào con. – Ông Hoành nói với Tuyết. – Mạ con có nhà?
– Nhà có tang, bác. Không tiếp khách Tết.
– Tui không phải khách Tết. – Ông nói, giọng hiền khô. – Tui là chủ nợ.
Tuyết đứng chết trân. Châm từ trong nhà bước ra, kịp mời ông vào trước khi em gái chị kịp mở miệng lần nữa.
Mạ ra ngồi ở bộ ván gian bên như hôm đám tang. Châm rót trà. Mạ bảo Quyến bưng ra đĩa mứt gừng o Lành biếu hôm Ba mươi, mứt gừng xắt lát mỏng, rắc đường trắng, cay tới chảy nước mắt. Ông Hoành nhón một lát, nhai, khen ngon. Rồi ông uống một ngụm trà, đặt chén xuống, nhìn mạ.
– Tui tới thăm o. Với hỏi chuyện cũ.
– Năm ni chưa có. – Mạ nói.
Ông Hoành gật đầu, như thể đó đúng là câu ông chờ.
– Thì năm sau.
Rồi hai người nói chuyện khác. Chuyện mưa năm nay dài, chuyện giá gỗ kiền kiền lên, chuyện nhà rường bên Kim Long có người Sài Gòn ra hỏi mua tháo về dựng lại. Ông Hoành nói nhiều, mạ nghe, thỉnh thoảng gật. Tuyết đứng dựa cột cái gần đó, nghiến răng nghe từng câu. Trà ngồi xếp bằng trên chiếu dưới đất, giả bộ đọc sách mà mắt cứ dán vào người lạ.
Nói được một lúc, ông Hoành đứng dậy, đi ra phía cửa gian giữa. Cánh cửa bằng gỗ mít, hai tấm, cao quá đầu người. Từ hôm ba mất không ai tra dầu, mở ra đóng vào là nó kêu một tiếng dài, rít, nghe như ai đang kéo móng tay trên tấm bảng. Ông Hoành mở thử ra một lần, nghe tiếng rít, rồi quay ra sân gọi:
– Chương! Vô sửa cái cửa cho o.
Người đàn ông đội mũ lưỡi trai dập điếu thuốc, mở thùng xe lấy ra một túi đồ nghề, đi vô. Anh ta trạc gần ba mươi, người gầy, tóc để dài phủ qua tai, mặc áo khoác bộ đội cũ đã bạc. Anh ta chào mạ bằng một cái gật đầu, chào mấy chị em bằng một cái gật đầu khác, rồi cúi xuống xem bản lề.
– Chốt mòn, chân cửa nở. – Anh ta nói, giọng Quảng, ít chữ như cha. – Phải nhấc cánh ra.
Anh ta nhấc nguyên cánh cửa ra khỏi bản lề, một mình, đặt nghiêng vào vách. Rồi lấy cái đục nhỏ, cái búa gỗ, gõ mấy cái vào chân cánh cửa, gọt bớt một lớp mỏng chỗ gỗ đã nở. Vụn gỗ vàng nhạt rơi xuống nền gạch. Mùi gỗ mít mới gọt bay khắp nhà, mùi mà mấy chị em đã quen từ khi còn nằm nôi, mùi của ba.
Quyến khẽ nói với Châm:
– Ảnh làm giống ba ghê.
Trà thì không nói gì. Nó bỏ cuốn sách xuống, ngồi bó gối nhìn. Một lúc sau trời hửng, nắng đổ xiên vô hiên, người thợ trẻ đổ mồ hôi. Anh ta cởi cái mũ lưỡi trai ra, vuốt mớ tóc ướt ra sau, lau trán bằng tay áo. Đúng lúc đó anh ta quay nghiêng mặt về phía Trà.
Trà nhìn thấy. Trước vành tai phải của anh ta, ngay chỗ da nối với má, có một cái lỗ nhỏ xíu, nhỏ như đầu cây tăm, hơi lõm xuống. Nó đưa tay sờ lên tai mình. Cái lỗ của nó cũng ở đúng chỗ đó. Từ hồi nhỏ, mỗi lần gội đầu cho nó, mạ đều lấy ngón tay cái chặn lên chỗ ấy cho nước khỏi vô, và gọi đó là "cái giếng". Mạ cũng có một cái giếng như vậy, cũng ở tai phải. Ba chị kia thì không.
Người thợ đội mũ lại, gắn cánh cửa vào, mở ra đóng vào hai lần. Cánh cửa xoay êm, không một tiếng động. Anh ta quét sạch vụn gỗ vào lòng bàn tay, đem ra gốc khế đổ, rồi đi ra xe, không đợi ai cảm ơn.
Trà chạy vô bếp, nơi Châm đang đun thêm ấm nước.
– Chị, chị! Anh nớ cũng có cái giếng như con với mạ!
– Giếng chi?
– Cái lỗ trước tai đó. Bên phải. Y chang.
Châm phì cười. Chị đổ nước sôi vào ấm, lắc nhẹ.
– Thì người ta có thiếu chi. Ngoài chợ Đông Ba ra mà đếm, chắc được cả trăm người.
– Mà y chang bên phải đó chị.
– Rứa thì em với anh nớ là anh em ruột. – Châm nói, đưa ấm trà cho em. – Bưng lên cho bác, đừng có làm đổ.
Trà bưng ấm trà lên, vừa đi vừa lẩm bẩm, rồi tới lúc ra tới gian giữa thì đã quên. Con mèo tam thể đang leo lên ván, nó phải đặt ấm xuống để bắt con mèo.
Mạ không có ở đó lúc ấy. Mạ đang ở trong buồng. Khi mạ đi ra thì tay cầm một chiếc nón mới tinh, vành còn thơm mùi lá phơi, quai lụa màu tím than.
– Ông cho tui gửi cái ni cho cậu nhỏ. – Mạ nói với ông Hoành. – Cảm ơn cậu sửa cửa.
Ông Hoành đỡ lấy, ngắm, khen nón đẹp, rồi gọi Chương vô. Người thợ trẻ đứng trước mạ, hai tay cầm chiếc nón như cầm một cái mâm.
– Dạ con cảm ơn o. – Anh ta nói, rồi ngập ngừng thêm một câu, câu dài nhất từ lúc tới. – Má con ưng nón Huế lắm. Má con hay nói nón Huế mỏng mà bền.
– Thì đưa cho má con. – Mạ nói.
Chiếc xe tải lại xả một đám khói ở đầu ngõ. Tuyết đóng cổng tre lại mạnh tới mức cái then gỗ bật ra, rơi xuống đất.
– Mạ! – Nó quay vô, giọng run run vì tức. – Mạ trả lời chi kỳ rứa? "Năm ni chưa có." Rứa năm sau có à? Mạ lấy chi mà có? Sáu cây vàng, mạ có biết bằng mấy ngàn cái nón không?
– Năm sau tính. – Mạ nói.
– Mạ còn cho hắn cái nón! Cho chủ nợ! Cái nón đó mạ chằm ba ngày!
– Cho con hắn. Không phải cho hắn.
Tuyết ngồi phịch xuống bậc thềm, ôm đầu. Quyến ngồi xuống cạnh, vuốt lưng chị. Một lúc lâu, Tuyết thò tay vào túi áo khoác, lấy ra một tờ giấy nhỏ màu hồng, gấp đôi.
– Con nói luôn một lần cho xong. – Nó nói, không nhìn ai. – Con mua vé rồi. Tàu ngày mười bốn tháng Hai. Cúng bốn mươi chín ngày cho ba xong là con vô Sài Gòn. Bạn con trong đó xin cho con vô xưởng may, lương bốn trăm rưỡi, có chỗ ở. Ở ngoài ni con may cho ai? Người ta mặc áo dài của chị Châm hết rồi.
Gian giữa im phăng phắc. Châm nhìn mạ. Mạ ngồi trên ván, tay cầm khuôn dế bằng gỗ mít, xoay xoay trên đầu ngón tay. Một lúc lâu mạ mới nói:
– Ừ.
Chỉ một chữ. Tuyết ngẩng lên, chờ thêm. Không có thêm. Mạ cầm kéo lên, đặt khuôn dế xuống tờ giấy pơ-luya, và bắt đầu cắt.
— Hết chương 2 —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe