AI Truyện
Bốn chị em nhà rường Bao Vinh

🏠 Gia đình & vả mặt

Tấm áo dài may dở

Bốn chị em nhà rường Bao Vinh · Chương 5/18 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 5: Tấm áo dài may dở

– Năm ni chưa có.

– Thì năm sau.

Hai câu ấy được nói ra lúc chín giờ hai mươi sáng mùng Bốn Tết Bính Tý, ở đúng bộ ván gian bên, trên đúng đĩa mứt gừng, chén trà sen. Đúng một năm sau lần đầu. Châm đứng hầu trà phía sau mạ, và chị có cảm giác như đang xem lại một vở tuồng mà mình đã thuộc từng câu.

Năm nay Tuyết không về Tết. Xưởng may trong Sài Gòn chạy hàng tới hai mươi tám, Tuyết gửi thư nói tiền tàu một chuyến bằng nửa tháng lương, thôi để dành gửi về cho mạ. Vắng Tuyết, không ai đứng chống nạnh giữa sân chặn ông Hoành. Quyến thì sợ người lạ. Trà thì bận đọc sách. Nên năm nay ông Hoành được vô nhà một cách êm thấm, ngồi lâu hơn, uống nhiều trà hơn.

Uống tới chén thứ ba, ông đặt chén xuống, xoay xoay nó trên mặt ván.

– O Thuần. – Ông nói. – Tui có chuyện ni muốn bàn.

Mạ gật đầu.

– Có ông khách trong Sài Gòn đặt tui tìm một cái nhà rường cũ, ba gian hai chái, gỗ tốt, chạm đẹp. Ổng tháo về dựng lại làm nhà thờ họ. – Ông Hoành nhìn quanh gian giữa, ánh mắt của người trong nghề, dừng lại ở từng cây cột, từng cái kèo, từng tấm vách chạm. – Tui đi khắp Huế, không có cái nhà mô đẹp bằng cái nhà ni. Anh Lương dựng lại nó, tui biết tay anh. Mộng nào cũng khít.

Châm thấy tay mình siết chặt cái quai ấm.

– Ông khách trả cao. – Ông Hoành tiếp. – Trừ món nợ của anh Lương, còn dư đủ cho o mua một căn nhà phố nhỏ trong thành nội, có chỗ cho mấy đứa nhỏ. O khỏi phải chằm nón tới mờ mắt.

Mạ không trả lời ngay. Mạ ngước nhìn lên, không phải nhìn ông Hoành, mà nhìn lên mái nhà, nơi cây thượng lương chạy dọc trên đầu, khuất trong bóng tối, phía trên cái gác gỗ.

– Nhà ni có tên con tui. – Mạ nói.

Ông Hoành nhíu mày.

– Thì con o ở đây, tui biết. Tui tính hết rồi, nhà phố trong thành nội…

– Không phải rứa. – Mạ nói. – Nhà ni không bán.

Hết. Mạ không giải thích thêm. Ông Hoành nhìn mạ một lúc lâu, rồi gật đầu như một người buôn đã quen bị từ chối, không giận, không nài.

– Rứa thì thôi. Tui hỏi cho biết.

Ông ăn thêm một lát mứt gừng. Trước khi về, ông như chợt nhớ ra, quay lại nói:

– À, bà nhà tui cảm ơn o cái nón năm ngoái. Bả treo trong buồng, không cho ai đội. Thằng Chương nói má đội đi má, bả nói tiếc.

Mạ gật đầu. Ngoài cổng, người đàn ông đội mũ lưỡi trai vẫn ngồi trong ca-bin xe tải, không xuống. Năm nay cửa không hư, nên không ai gọi anh ta vô.

Sau khi xe đi, Châm dọn trà. Chị cứ nghĩ mãi về câu mạ nói. "Nhà ni có tên con tui." Tên ai? Ở đâu? Chị đã sống ở đây hai mươi bảy năm, đã quét từng góc, lau từng cây cột. Không có cái tên nào khắc trên cột, trên vách, trên ngạch cửa. Chị nghĩ có lẽ mạ chỉ nói theo kiểu người già: nhà là nơi con cái lớn lên, nên có tên con cái. Chị nghĩ vậy rồi thôi.

Mùa xuân năm đó, thầy Vịnh làm một việc mà o Lành gọi là "liều mạng". Thầy không mang áo rách tới nữa. Thầy mang mạ của thầy tới.

Bà cụ nhỏ người, lưng còng, đi chậm, ngồi trên ghế của ba ở gian giữa uống trà với mạ. Hai bà già nói chuyện mưa nắng, chuyện giá gạo, chuyện chùa này chùa kia, tuyệt nhiên không nhắc chuyện con cái. Thầy Vịnh ngồi ở mép ván, lưng thẳng như khúc tre, tay đặt trên đầu gối, mặt đỏ như người bị sốt. Châm trốn dưới bếp, giả bộ nấu chè. Trà thì ngồi trên bậc cửa bếp, tường thuật lại cho chị từng câu.

– Giờ đang nói chuyện mấy cây mai của nhà bên ấy. – Trà thì thầm. – Giờ nói chuyện mưa năm ngoái. Giờ… á, giờ bà cụ nói "con tui nó hiền". Mạ nói "Ừ, tui biết". Giờ mạ hỏi bà cụ uống thêm trà không.

– Rồi răng nữa?

– Rồi hết. Hai bà uống trà.

Một tiếng đồng hồ trôi qua như vậy. Lúc ra về, bà cụ nắm tay mạ, nói "Rứa nghe o", mạ nói "Rứa nghe chị". Và thế là xong. Người Huế bàn chuyện cưới hỏi không cần nói chữ cưới. Châm đứng dưới bếp, tay cầm cái vá, nghe tim mình đập loạn.

Tối hôm đó mạ gọi chị vô buồng.

– Thằng Vịnh đó được. – Mạ nói. – Đi đi con.

– Mạ…

– Đi đi. Nhà ni còn con Quyến, con Trà. Mạ còn tay chằm nón.

Châm ngồi im. Chị muốn hỏi mạ nhiều chuyện. Hỏi về món nợ. Hỏi về người con nuôi ở Sa Huỳnh. Hỏi mạ ở một mình có buồn không. Nhưng chị chỉ nói:

– Dạ.

Ngày hôm sau, Châm ra chợ Đông Ba mua vải. Chị chọn một khúc lụa màu đỏ trầm, không đỏ chói như áo cô dâu bây giờ, mà đỏ như màu sơn son trên mấy cái hoành phi cũ trong chùa. Chị đem về, trải lên bàn, lấy phấn vạch, cầm kéo cắt. Chị đã may hàng trăm cái áo dài cưới cho người khác. Chưa bao giờ tay chị run như hôm đó.

Chị may chậm. Ban ngày may áo khách. Tối khuya mới lấy cái áo đỏ ra, may một chút, rồi gói lại. Chị muốn may thật kỹ, từng đường chỉ một. Ở mặt trong vạt sau, chỗ không ai nhìn thấy, chị thêu một con dế nhỏ bằng chỉ vàng, một cái râu thẳng, một cái râu cong gập, giống y con dế trong nón của mạ. Chị không biết tại sao chị thêu nó. Chỉ là chị muốn đem theo một thứ gì đó của căn nhà này lên Đà Lạt.

Thầy Vịnh xin chuyển trường được rồi. Thầy sẽ đi vào giữa tháng Tám, trước năm học mới. Hai nhà bàn với nhau làm đám hỏi vào đầu tháng Tám, trước ngày thầy đi một tuần, rồi cưới luôn ở Đà Lạt vào cuối năm, khi cả nhà thầy đã ổn định trên đó. O Lành nghe tin, chạy sang ôm Châm, khóc như chính o gả con.

– Con nì. Lên trên nớ lạnh lắm, nhớ mặc áo len. Mà thằng Vịnh nó nghèo, lấy chi mua áo len cho con. Thôi o đan cho.

– O đan bao giờ mà con chưa thấy?

– O học. Mới học.

Cuối tháng Bảy, cái áo dài đỏ đã xong thân, xong tay, chỉ còn đính khuy và viền cổ. Châm tính may xong trong ba tối nữa.

Tối thứ hai của ba tối ấy, mạ ngã.

Mạ ra giếng múc nước rửa lá nón, trời vừa mưa, mấy viên gạch quanh miệng giếng phủ rêu trơn như mỡ. Châm đang ở chái đông, nghe tiếng thau nhôm rơi loảng xoảng, rồi tiếng kêu khẽ. Chị chạy ra. Mạ ngồi bệt dưới đất, tay phải ôm cổ tay trái, mặt trắng bệch, môi mím chặt. Cổ tay trái của mạ gập lệch đi một góc rất lạ.

Lần thứ hai trong hai năm, Châm gọi xích lô của ông Cửu đầu kiệt, chở người nhà vô bệnh viện trong đêm.

Bác sĩ nói gãy xương cổ tay, phải bó bột sáu tuần, rồi tập thêm một hai tháng nữa mới cầm nắm được bình thường. Mạ nghe xong chỉ hỏi một câu:

– Rứa có chằm nón được không?

– Bác đừng làm việc gì nặng tay trái ít nhất ba tháng. – Bác sĩ nói. – Chằm nón càng không.

Mạ không nói gì nữa.

Mấy ngày sau, Châm bắt gặp mạ ngồi dưới hiên, tay trái bó bột trắng toát đặt trên đùi, tay phải cố cầm cây kim xỏ qua lá. Không có tay trái giữ khuôn, cái vành tre cứ xoay đi, lá cứ xô lệch. Mạ xỏ được một mũi thì tuột. Xỏ lại. Tuột. Cây kim rơi xuống nền gạch, kêu một tiếng nhỏ. Mạ cúi xuống nhặt, chậm chạp, như một bà già tám mươi, dù mạ mới năm mươi mốt.

Châm đứng ở cửa nhìn rất lâu. Rồi chị quay vào chái đông.

Chị ngồi trước cái áo dài đỏ. Chị nghĩ tới con số Trà tính năm ngoái. Bảy trăm bảy mươi mấy cái áo. Tiền nón của mạ, giờ là không. Tiền học của Trà năm cuối cấp. Quyến làm tiếp khách tiệm chụp hình, lương không đủ nó tự lo. Tuyết trong Sài Gòn, mỗi tháng gửi về một trăm, hai trăm, tháng nào xưởng không có hàng thì không gửi. Ông Hoành mỗi năm tới một lần, ngồi trên bộ ván, uống trà, nói "Thì năm sau." Năm sau rồi năm sau nữa.

Và mạ, một mình, trong căn nhà rường ba gian hai chái, với cái cổ tay bó bột và một bí mật không chịu nói ra.

Châm gấp cái áo dài đỏ lại. Gấp từng nếp, cẩn thận như người ta gấp cờ. Chị bỏ nó vào cái rương gỗ sơn đen dưới gầm giường, cái rương bà ngoại để lại.

Sáng hôm sau chị đạp xe sang trường thầy Vịnh.

Hai người đứng dưới gốc phượng trong sân trường vắng. Mùa hè, học trò nghỉ hết, chỉ còn tiếng ve. Châm nói. Chị nói ngắn gọn, như cách mạ vẫn nói. Thầy Vịnh nghe, không cắt ngang lần nào. Nghe xong, thầy tháo kính ra, lau, đeo lại. Lần này thầy không cười.

– Anh có thể ở lại. – Thầy nói. – Anh rút đơn chuyển trường.

– Rồi mạ anh?

Thầy im. Mạ của thầy yếu tim. Cả nhà lên Đà Lạt một phần là vì không khí trên ấy tốt cho bà. Anh Hai của thầy có vợ con, có vườn, nhưng không ở được gần mạ cả ngày. Thầy là con út. Ai cũng biết, ở Huế, con út thì ở với mạ.

– Mạ anh cần anh. – Châm nói. – Mạ em cần em. Mình hai đứa giống nhau. Ai cũng là đứa phải ở lại.

– Rứa thì đợi. – Thầy nói. – Ba năm, năm năm. Tới khi mạ em lành tay, khi Trà vô đại học…

– Anh đừng đợi.

Châm nói câu đó mà không nhìn thầy. Chị nhìn những cánh phượng rụng đỏ trên sân gạch.

– Anh đợi thì anh khổ. Em nhìn anh đợi thì em khổ. Mà em không biết tới khi mô. Món nợ của ba em, em không biết tới khi mô mới trả xong.

– Nợ chi? Bao nhiêu? Anh…

– Anh đừng hỏi.

Thầy Vịnh đứng im rất lâu. Rồi thầy làm một việc lạ: thầy đưa tay lên ngực áo, nắm lấy cái khuy thứ ba, giật mạnh. Sợi chỉ đứt. Thầy xòe bàn tay ra, cái khuy nhựa trắng nằm giữa lòng tay.

– Cái ni em giữ. – Thầy nói. – Khi mô em đơm lại được thì đơm.

Châm không cầm. Chị quay xe, đạp đi. Chị đạp tới đầu cầu Gia Hội thì phải dừng lại, dựng xe bên lan can, đứng nhìn xuống nước rất lâu.

Ngày mười tám tháng Tám, Chủ nhật, thầy Vịnh lên chuyến xe khách sáng sớm đi Đà Lạt.

Châm không ra bến xe. Chị ngồi ở chái đông từ năm giờ sáng, đạp máy may một cái áo sơ mi cho khách, đạp đều đều, không ngẩng đầu. Mạ ngồi dưới hiên với cái tay bó bột. Quyến đi làm. Trà đi.

Trà về lúc gần chín giờ, mặt đỏ, mắt đỏ. Nó đi thẳng vô chái đông, đứng cạnh bàn máy, xòe tay ra.

Cái khuy nhựa trắng.

– Thầy nói con đưa cho chị. – Trà nói, giọng nghẹn. – Thầy nói chị không cầm thì con cầm giùm. Thầy nói khuy thứ ba, xác suất đứt cao gấp đôi.

Châm dừng chân đạp. Chiếc máy may chạy thêm mấy vòng theo đà rồi đứng im. Chị cầm lấy cái khuy. Nó còn ấm hơi tay của Trà.

Tối đó, khi cả nhà đã ngủ, Châm kéo cái rương gỗ sơn đen ra, mở nắp. Cái áo dài đỏ nằm đó, gấp vuông, chưa có khuy, chưa viền cổ. Chị đặt cái khuy nhựa trắng lên trên vạt áo, đúng chỗ khuy thứ ba của một cái áo dài sẽ nằm, nếu người ta đính nó vào. Rồi chị đóng nắp rương lại, đẩy vào gầm giường.

Khi chị đứng dậy, mạ đang đứng ở cửa buồng, tay trái bó bột ôm trước ngực. Hai mẹ con nhìn nhau trong bóng tối.

– Châm. – Mạ gọi.

– Dạ.

Mạ đứng đó, môi động đậy như sắp nói một điều gì rất dài. Rồi mạ chỉ nói:

– Khi mô mạ tháo bột, mạ chằm cho con một cái nón.

Mạ quay đi. Châm nghe tiếng dép của mạ lẹp xẹp trên nền gạch, xa dần, về phía gian giữa, dừng lại ở chỗ bốn cây cột cái. Chị nghe mạ đứng đó rất lâu, không thắp nhang, không làm gì cả. Chỉ đứng, ngửa mặt lên nhìn mái nhà tối đen.

— Hết chương 5 —

Mục lục Bốn chị em nhà rường Bao Vinh

  1. 1Hai người lạ ở đám tang ba12 phút đọc
  2. 2Năm ni chưa có10 phút đọc
  3. 3Chuyến tàu ngày mười bốn tháng Hai10 phút đọc
  4. 4Lá thư gửi mạ từ Sa Huỳnh10 phút đọc
  5. 5Tấm áo dài may dở11 phút đọc
  6. 6Hội thi áo dài của phường11 phút đọc
  7. 7Đám cưới trong hẻm Sài Gòn11 phút đọc
  8. 8Người khách tháng Chín10 phút đọc
  9. 9Đêm nước lên tới xà ngang11 phút đọc
  10. 10Xưởng bốn máy gần chợ Bình Tây11 phút đọc
  11. 11Rước dâu bằng ghe ở Năm Căn11 phút đọc
  12. 12Bà Hoành khóc ở chái đông11 phút đọc
  13. 13Con dế gỗ ở Mỹ Xuyên12 phút đọc
  14. 14Hai cây vàng trên mâm trà10 phút đọc
  15. 15Cuộc cãi nhau dưới bốn cột cái10 phút đọc
  16. 16Con dế trên đà mũi ghe12 phút đọc
  17. 17Tết có thêm một người10 phút đọc
  18. 18Không cùng huyết thống10 phút đọc

Về truyện này

Bốn chị em nhà rường Bao Vinh là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Khánh của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →