Chương 7: Đám cưới trong hẻm Sài Gòn
Người đàn ông đứng ở cửa ra ga Sài Gòn giơ cao một tấm bìa các-tông, trên đó viết bằng mực đỏ, chữ to tướng: "MẠ CỦA TUYẾT". Bên dưới, chữ nhỏ hơn: "và chị Châm".
Anh ta gầy, đen, cao lêu nghêu, mặc áo sơ mi ca rô bỏ thùng, quần tây hơi ngắn, chân đi giày da mới bóng. Một bên thái dương dán miếng cao dán nhỏ hình vuông. Thấy mạ với Châm đi ra, anh ta hạ tấm bìa xuống, chạy lại, cúi đầu thật thấp.
– Dạ con chào má! Dạ con chào chị Hai! Con là Khỏe!
Rồi anh ta hắt xì một cái rõ to.
– Dạ con xin lỗi. Con bị cảm. Con bị từ hôm qua, tại hồi hộp quá.
Châm phải cắn môi. Mạ thì nhìn anh ta từ đầu tới chân, cái nhìn mà bốn chị em đều biết là mạ đang cân đong. Rồi mạ gật đầu.
– Ừ. Chào con.
Tuyết đứng phía sau Khỏe, tay xách cái giỏ đựng chai nước và mấy cái bánh mì. Ba năm ở Sài Gòn, em gái Châm gầy đi, đen đi, tóc cắt ngắn ngang vai, mặc quần jean. Nó nhìn mạ, cái nhìn vừa háo hức vừa sợ sệt của đứa con dẫn người yêu về ra mắt. Rồi nó lao tới ôm chầm lấy mạ, ôm chặt, giữa sân ga đông nghẹt người.
Mạ đứng im trong vòng tay con. Hai tay mạ lúng túng một lúc, rồi từ từ vòng lên, đặt nhẹ trên lưng Tuyết.
Đám cưới của Tuyết diễn ra ở nhà Khỏe, trong một con hẻm nhỏ gần chợ Bình Tây. Con hẻm hẹp tới mức hai chiếc xe máy tránh nhau phải nghiêng người. Nhà Khỏe là căn nhà ống một trệt một lầu, mặt tiền rộng chừng ba mét rưỡi, phía trước là chỗ để chiếc xe ba gác, phía sau là bếp, trên lầu là chỗ ngủ của cả nhà bảy người. Hai bên là hai căn nhà giống hệt, sát vách, nghe được tiếng nhà bên ho.
Má Khỏe là bà Năm Xoài, sáu mươi tuổi, mập, tóc bới cao, giọng to như cái loa phường. Bà ra tận đầu hẻm đón mạ, nắm hai tay mạ lắc lắc.
– Trời đất ơi, sui gia! Sui gia đi tàu có mệt hông? Vô nhà, vô nhà! Con Tuyết nó kể chị hoài, nói má con ở ngoài Huế hiền lắm, ít nói lắm. Tui nói vậy thì hên rồi, nhà tui ai cũng nói nhiều, có người ít nói cho nó cân!
Mạ được dắt vô nhà, được mời ngồi trên cái ghế bố duy nhất, được bưng cho một ly nước mía to bằng cái tô. Mạ cầm ly nước, uống một ngụm, rồi đặt xuống.
– Ngọt. – Mạ nói.
– Ngọt hả? Để tui pha thêm đá cho chị!
Khỏe có năm anh chị em, ai cũng có chồng có vợ, có con, nên mấy ngày trước đám cưới, căn nhà ống lúc nào cũng có chừng hai chục người ra vô, con nít chạy rầm rầm trên cầu thang, người lớn ngồi nhặt rau dưới đất, nói cười ầm ĩ. Tối tối, ông anh rể của Khỏe kéo cái dàn loa ra đầu hẻm hát. Mạ ngồi trên ghế bố, nghe hết bài này tới bài khác, mặt không đổi sắc.
Châm thì không ngủ được. Đêm đầu tiên chị nằm trên chiếu trải ở tầng lầu, giữa Tuyết và một đứa cháu của Khỏe, nghe tiếng xe máy chạy ngoài đường lớn suốt đêm, tiếng người bán hủ tiếu gõ lộc cộc, tiếng con chó nhà bên sủa. Chị nhớ cái im lặng của Bao Vinh, nơi ban đêm nghe được cả tiếng cá quẫy dưới sông.
Tuyết nằm sát bên chị, thì thầm:
– Chị thấy ảnh răng?
– Ai?
– Thì ảnh. Khỏe.
Châm nghĩ một lúc.
– Ảnh hắt xì mười bảy lần từ chiều tới giờ.
Tuyết bịt miệng cười.
– Ảnh dị ứng phấn hoa, dị ứng bụi, dị ứng lông chó. Trời nóng thì nhức đầu, trời mưa thì đau lưng. Mà chị biết không, chị Châm, ba năm nay ở trong ni, em bệnh một lần, sốt tới bốn mươi độ, nằm phòng trọ không ai hay. Ảnh chạy ba gác chở hàng cho xưởng em, không thấy em đi làm, ảnh hỏi phòng trọ, ảnh tới. Ảnh cõng em xuống ba tầng lầu, chở em vô bệnh viện bằng cái xe ba gác. Em nằm trên thùng xe, giữa mấy bao vải vụn, ảnh đạp trước, vừa đạp vừa hắt xì.
Châm không nói gì. Chị đưa tay tìm bàn tay em gái trong bóng tối, bóp nhẹ.
Sáng thứ Sáu, ngày trước đám cưới, mạ dậy sớm, mặc cái áo dài màu nâu đất, đội nón.
– Mạ đi chùa. – Mạ nói với Châm. – Con ở nhà phụ con Tuyết.
– Chùa mô mạ? Để con đi với.
– Mạ đi một mình được.
Mạ ra đầu hẻm, vẫy một chiếc xe ôm, đưa cho người lái một mảnh giấy nhỏ, rồi leo lên ngồi. Châm đứng ở cửa nhà nhìn theo. Mạ không biết Sài Gòn. Mạ chưa từng vô Sài Gòn lần nào. Mạ không biết chùa nào ở đây. Và mảnh giấy mạ đưa cho người lái xe ôm là một mảnh giấy đã cũ, mép sờn, như đã được gấp mở nhiều lần.
Châm chạy ra đầu hẻm, vẫy chiếc xe ôm thứ hai.
– Chú chạy theo chiếc xe đằng trước giùm con.
Người lái xe ôm là một ông chừng năm mươi, đội cái nón tai bèo bạc màu, ngoái lại nhìn chị, nhướng mày.
– Theo dõi hả cưng? Chồng đi với bồ hả?
– Mạ con.
– Trời đất. – Ông lái xe nổ máy. – Má đi với bồ hả?
– Chú chạy đi!
Hai chiếc xe ôm nối nhau len qua những con đường mà Châm không biết tên. Chợ, cầu, hàng cây, những ngã tư đông như kiến. Mạ ngồi thẳng lưng sau xe phía trước, một tay giữ vành nón. Hơn nửa tiếng sau, xe của mạ rẽ vào một con hẻm ở Gò Vấp, dừng trước một căn nhà nhỏ có giàn bông giấy tím trùm kín cổng. Châm bảo ông lái xe dừng ở đầu hẻm, trả tiền, rồi đi bộ vào.
Mạ đã vào trong. Cổng sắt khép hờ. Căn nhà có một cửa sổ nhỏ mở ra phía hông, sát hàng rào. Châm đứng nép bên giàn bông giấy. Chị nghe tiếng mạ, rồi tiếng một bà già mà mạ gọi là chị Sáu, giọng Huế, cái giọng Huế đã phai đi nhiều sau mấy chục năm sống ở trong này.
– …ba mươi năm rồi o ơi. – Bà già nói. – Tui già rồi, nhớ trước quên sau.
– Chị Sáu nhớ chừng mô thì nói chừng nấy. – Giọng mạ. Châm chưa bao giờ nghe mạ nói giọng ấy, giọng của người đang xin.
– Bữa đó trạm của tui ở sát cầu Phú Cam, phía nam sông Hương. Người ta tản cư qua đông lắm. Đứa nhỏ đau, đứa nhỏ bị thương, đem vô trạm hết. Tui làm y tá, mấy đứa con gái phụ việc thì bế con nít.
– Đứa nhỏ ba tháng. – Mạ nói. – Sốt. Đội cái nón nhỏ mạ nó chằm. Có con dế giấy trong nón.
Châm nín thở. Chị nghe bà già im một lúc lâu.
– Tui không nhớ con dế. – Bà già nói. – Nhưng tui nhớ có một đứa nhỏ đội cái nón nhỏ xíu, nón trắng, quai đỏ. Tui nhớ vì cả trạm không đứa nhỏ mô đội nón, chỉ có đứa nớ. Có con nhỏ y tá phụ người Quảng ẵm nó suốt. Con nhỏ nớ tên chi… Huệ, hay Huê chi đó. Tui nhớ mang máng có chữ "H".
– Rồi răng nữa chị?
– Rồi pháo rớt. – Bà già nói. – Rớt ngay sau trạm. Người ta chạy tán loạn. Tui chạy, tui ẵm hai đứa, tui chạy qua tới bên kia đồi. Tới khi trạm dời đi chỗ khác, tui không thấy con nhỏ người Quảng nớ nữa. Không thấy đứa đội nón nữa.
Im lặng. Một con chim sẻ đậu trên giàn bông giấy, kêu chíp chíp, rồi bay đi.
– Chị có biết con nhỏ nớ về mô không? – Mạ hỏi.
– Không biết, o ơi. Tui xin lỗi o. Tui chỉ nhớ chừng nớ.
Châm đứng bên giàn bông giấy, hai tay bấu vào lưới rào. Chị không hiểu. Chị không hiểu chút nào. Đứa nhỏ ba tháng. Cái nón nhỏ. Con dế giấy. Năm Mậu Thân. Mạ hỏi về một đứa bé bị lạc ba mươi năm trước. Đứa bé nào? Con ai?
Rồi một ý nghĩ lạnh buốt chạy qua đầu chị. Giáp. Anh Giáp ở Sa Huỳnh, lớn hơn chị một, hai tuổi. Năm Mậu Thân, anh Giáp còn là một đứa bé. Người con nuôi của ba. Có phải ba mạ đã từng nhận nuôi một đứa nhỏ, rồi lạc nó, rồi tìm lại? Có phải vì vậy mà ba đi vay vàng?
Chị chưa kịp nghĩ hết thì cánh cửa nhà mở. Mạ bước ra, cúi đầu chào bà già lần nữa, rồi quay ra cổng.
Mạ thấy Châm.
Hai mẹ con đứng cách nhau năm bước chân, qua cánh cổng sắt khép hờ và giàn bông giấy tím. Châm không chạy, không trốn. Chị không biết phải làm gì. Mạ nhìn chị một lúc lâu, gương mặt không giận, không ngạc nhiên. Chỉ mệt.
– Về. – Mạ nói.
Hai mẹ con về trên hai chiếc xe ôm. Suốt đường, mạ không nói một lời.
Đám cưới của Tuyết diễn ra sáng thứ Bảy dưới một cái rạp bạt xanh dựng chắn ngang con hẻm. Nhà trai, nhà gái thật ra chỉ cách nhau hai con đường, vì nhà gái là căn phòng trọ của Tuyết, nên đoàn rước dâu chỉ cần đi bộ năm phút. Nhưng bà Năm Xoài nhất định phải làm cho đúng lễ, thuê hẳn hai chiếc xe hơi, chở cô dâu chạy một vòng quanh chợ Bình Tây rồi mới vô hẻm. Khỏe mặc bộ com-lê màu xám, cổ đeo nơ đỏ, vừa đi vừa xịt thuốc mũi.
Phía nhà gái, chỉ có mạ, Châm, và mấy cô bạn cùng xưởng của Tuyết. Mạ ngồi ghế đầu, mặc áo dài nâu, tóc búi gọn. Lúc làm lễ, ông chủ hôn bên nhà trai nói một bài dài về hạnh phúc lứa đôi, hiếu thảo với cha mẹ, nói bằng giọng Sài Gòn nhanh và tròn. Tới lượt nhà gái, mọi người nhìn mạ. Mạ đứng dậy, nói đúng hai câu:
– Con Tuyết nóng tính. Con thương nó thì chịu khó.
Khỏe cúi đầu, dạ một tiếng rõ to, rồi hắt xì.
Cả rạp cưới cười ồ. Bà Năm Xoài cười to nhất, vỗ đùi đen đét. Tuyết đứng bên chồng, mặt đỏ như cái áo dài cô dâu mặc trên người, vừa cười vừa khóc.
Sau lễ, mạ gọi Tuyết lại một góc, sau cái tủ lạnh. Mạ lấy trong túi xách ra một chiếc nón, gói trong tờ giấy báo cũ. Nón mới, lá trắng muốt, vành nhỏ hơn nón thường một chút, quai lụa màu đỏ.
– Mạ chằm cho con.
Tuyết cầm chiếc nón. Nó đứng ở chỗ ánh nắng từ cửa sổ hắt vô, và theo thói quen của đứa lớn lên trong nhà chằm nón, nó nâng chiếc nón lên, xoay về phía nắng. Bên trong, giữa hai lớp lá, hiện ra hình một cây cầu sáu vài mười hai nhịp, một con đò, mấy câu thơ. Và ngay dưới chỗ buộc quai, nhỏ xíu, mờ mờ, một con dế với một cái râu cong gập.
Tuyết bật khóc. Nó khóc to, khóc như con nít, giữa đám cưới của chính mình. Bà Năm Xoài chạy lại hỏi chuyện gì, nó chỉ lắc đầu, ôm chiếc nón vào ngực.
Tối đó, sau khi tiệc tan, sau khi khách khứa về hết và con hẻm đã im, Châm ra ngồi ở bậc cửa nhà Khỏe hóng gió. Mạ ra ngồi bên cạnh. Hai mẹ con ngồi nhìn ra con hẻm, nơi người ta đang dỡ cái rạp bạt xanh. Một con mèo đen đi qua, dừng lại nhìn họ, rồi đi tiếp.
– Châm. – Mạ gọi.
– Dạ.
– Chuyện hôm qua, con đừng hỏi.
Châm siết hai bàn tay vào nhau.
– Mạ. Đứa nhỏ ba tháng đó là ai?
Mạ im rất lâu. Ở đầu hẻm, ai đó bật radio, tiếng nhạc vàng vọng tới, nhỏ và xa.
– Khi mô mạ nói được, mạ nói. – Mạ nói.
– Mạ hứa?
Mạ quay sang nhìn chị. Dưới ánh đèn đường vàng vọt, Châm thấy trên mặt mạ có những nếp nhăn mà chị chưa từng để ý, sâu như những đường vân trên lá nón đã phơi khô.
– Ừ. – Mạ nói. – Mạ hứa.
— Hết chương 7 —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe