AI Truyện
Bốn chị em nhà rường Bao Vinh

🏠 Gia đình & vả mặt

Con dế trên đà mũi ghe

Bốn chị em nhà rường Bao Vinh · Chương 16/18 · Sáng tác: AI Truyện

📖 12 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 16: Con dế trên đà mũi ghe

Ruộng muối Sa Huỳnh trắng tới chói mắt. Những đống muối nhọn đầu xếp thành hàng dài trên nền ruộng nứt nẻ, như một đàn nón lá úp ngược phơi giữa trưa. Mấy người đàn bà đội nón, quấn khăn kín mặt, cầm cây cào gỗ kéo muối thành luống, lưng cong gập, bóng đổ xuống chân ngắn ngủn. Gió biển thổi vào, mặn chát, mang theo hơi nóng như hơi lò.

Tuyết dừng chiếc xe máy thuê bên vệ đường, cởi nón, quạt phành phạch.

– Trà. Mi chắc đường ni không?

– Chắc. – Trà nói, cầm lá thư cũ của Giáp, so với tấm bản đồ tỉnh mua ở bến xe Quảng Ngãi. – "Thôn biển, Sa Huỳnh." Biển ở phía tê. Mình đi thẳng ra biển là tới.

– Thôn biển. – Tuyết lặp lại. – Ở đây thôn mô mà không ở gần biển.

Hai chị em đi từ Huế vào bằng chiếc xe khách lúc năm giờ sáng, qua đèo Hải Vân, qua Đà Nẵng, xuống tới bến xe Quảng Ngãi lúc gần mười giờ. Thuê một chiếc xe máy cũ, phanh trước không ăn, rồi chạy tiếp sáu chục cây số theo quốc lộ về phía nam. Tuyết lái. Trà ngồi sau, ôm cái túi xách, đọc đường. Trà gần ba mươi tuổi, cưới anh Hiển được hai năm, chưa có con, xin nghỉ phép ba ngày với lý do "việc gia đình". Chị trưởng phòng hỏi việc gì, Trà nói đi tìm anh trai. Chị trưởng phòng tưởng nó đùa.

Tuyết ra Huế từ hôm kia. Đêm qua chị ngủ ở nhà rường, trong căn buồng cũ, và trước khi đi, chị Châm đưa cho chị lá thư của Giáp. Hai chị em đứng ở hiên, lúc trời còn tối, không ai nói gì nhiều. Bảy tháng nay hai người chưa nói với nhau quá mười câu. Tuyết cầm lá thư, cho vào túi áo khoác.

– Đi cẩn thận. – Chị Châm nói.

– Dạ.

Đó là tất cả. Nhưng lúc Tuyết đã ra tới cổng tre, chị Châm gọi với theo:

– Tuyết. Gặp anh Giáp thì nói chị gửi lời thăm.

Tuyết không quay lại. Chị chỉ giơ tay lên, vẫy một cái.

Cảng cá Sa Huỳnh nằm trong một cái vịnh nhỏ, nước xanh trong, bãi cát vàng chạy dài hai phía. Hàng trăm chiếc ghe gỗ đậu san sát, mũi ghe nào cũng sơn màu, xanh, đỏ, vàng, có chiếc vẽ hai con mắt to tròn ở hai bên mũi. Buổi trưa, ghe đã về bến từ sáng, người ta đang vác cá lên bờ, những rổ cá cơm trắng bạc, những thùng cá nục, cá thu. Mùi cá tanh nồng, mùi dầu máy, mùi nước mắm phơi.

Tuyết dừng xe, hỏi một ông già đang ngồi vá lưới.

– Bác ơi, bác có biết anh Trần Văn Giáp không bác?

Ông già nheo mắt nhìn hai chị em.

– Giáp nào? Ở đây có ba thằng tên Giáp. Giáp thầy bói, Giáp thợ máy, Giáp đầu bạc.

– Anh Giáp đi biển. Có cái ghe… – Tuyết ngừng lại, quay sang Trà.

– Có cái ghe mũi khắc con dế. – Trà nói.

Ông già ngừng tay vá lưới. Ông quay sang mấy người đàn ông ngồi gần đó, nói gì đó bằng giọng Quảng Ngãi đặc sệt, nhanh tới mức Tuyết không nghe kịp. Mấy người kia cười ồ lên.

– Ghe con dế! – Ông già nói, cười móm mém. – Ghe thằng ba con Muối! Cả bến ni ai cũng biết. Ghe mô cũng vẽ con mắt, vẽ con rồng, chỉ có ghe nó khắc con dế. Hồi mới hạ thủy, người ta chọc nó hoài. Ghe đánh cá chớ ghe bắt dế mô.

Ông chỉ tay về phía cuối bến.

– Đi tới chỗ cây phi lao lớn, chiếc ghe sơn xanh có cái mũi gỗ để trơn, không sơn. Đó.

Hai chị em đi bộ dọc bãi cát. Cát nóng bỏng qua đế dép. Trà đi trước, mắt nhìn chằm chằm vào từng chiếc mũi ghe. Rồi nó dừng lại.

Chiếc ghe dài chừng mười hai mét, thân sơn xanh dương đã bạc màu, mép mạn tróc sơn từng mảng. Đậu sát bờ, mũi ghe hướng vào bãi cát. Không giống những chiếc ghe khác, cái đà mũi của nó không sơn màu, không vẽ mắt, mà để trơn màu gỗ, sẫm lại vì nước muối và năm tháng, nhẵn bóng như được ai đó lau chùi thường xuyên.

Trên mặt đà mũi, đục sâu vào gỗ, là một con dế.

Con dế lớn bằng bàn tay. Sáu cái chân co lại. Một cái râu thẳng. Một cái râu cong gập.

Trà bước tới, đưa tay lên. Tay nó chạm vào con dế, lần theo từng đường đục. Nó run. Tuyết thấy rõ em gái mình run.

– Giống y chang, chị. – Trà nói, giọng khản đặc. – Y chang con dế trên thượng lương. Em sờ rồi, em nhớ cái tay. Nét đục sâu bên trái, cạn bên phải. Ba thuận tay phải.

Tuyết đứng sau lưng em. Chị chưa từng thấy con dế trên thượng lương. Chị chỉ nghe kể. Nhưng chị đã thấy con dế trong lòng chiếc nón mạ cho chị năm chín tám. Chị đã thấy con dế gỗ chú Ngạn đưa cho chị năm hai ngàn lẻ ba, giờ đang nằm trong túi xách chị. Chị lấy con dế gỗ ra, đặt nó áp lên con dế trên mũi ghe.

Hai con dế, một nhỏ một lớn, một đục năm mười lăm tuổi, một đục năm năm mươi bảy tuổi. Cái râu cong gập của chúng chĩa về cùng một hướng.

– Mấy cô kiếm ai?

Một giọng đàn bà vang lên phía sau, gắt và cảnh giác. Hai chị em quay lại. Một người đàn bà trạc bốn mươi, đen, gầy, mặc áo bà ba nâu, quần đen xắn tới gối, tay xách hai cái rổ cá trống trơn, đứng nhìn họ chằm chằm.

– Dạ, tụi con kiếm anh Giáp. – Tuyết nói.

– Kiếm làm chi?

– Dạ, tụi con là con của ông Lương. Ở Huế.

Người đàn bà đứng im. Hai cái rổ cá trên tay bà từ từ hạ xuống, chạm cát.

– Con ông Lương. – Bà lặp lại. Rồi bà quay đầu, hét vọng về phía mấy căn nhà lợp tôn sau hàng phi lao: – Anh Giáp ơi! Anh Giáp! Ra đây! Người nhà ngoài Huế vô!

Nhà Giáp là căn nhà cấp bốn ba gian, tường quét vôi vàng, mái tôn, sân lát xi măng phơi đầy lưới. Trên bàn thờ giữa nhà, cạnh di ảnh một ông già và một bà già, có một tấm ảnh nhỏ cũ kỹ, đen trắng, lồng trong khung gỗ: ba. Ba lúc năm mươi tuổi, đội khăn đóng, mặc áo the. Cùng tấm ảnh trên bàn thờ ở nhà rường Bao Vinh. Tuyết nhìn tấm ảnh và thấy cổ họng mình nghẹn lại.

Giáp từ phía sau nhà chạy ra, tay còn cầm con dao rọc lưới. Anh ta bốn mươi hai tuổi, tóc đã điểm bạc, da đen sạm như gỗ mun, lưng hơi còng. Anh ta nhìn hai chị em, nhìn Trà trước, nhận ra ngay.

– Cô út. – Anh ta nói. – Cô út hỏi nhiều.

Trà bật cười, rồi khóc luôn.

Rồi Giáp nhìn sang Tuyết. Anh ta nhíu mày một lúc lâu.

– Chị này… – Anh ta nói chậm. – Hồi đám ba, chị đứng ở góc bàn thờ, chị nhìn tui như muốn ăn tươi.

Tuyết đỏ mặt. Rồi chị cũng bật cười.

– Dạ. Em là Tuyết. Đứa thứ hai.

Chị Sen pha nước chè xanh, bày ra một đĩa cá cơm chiên giòn, một đĩa bánh tráng nướng. Con Muối, giờ đã mười sáu tuổi, cao nhổng, đen nhẻm, đứng nép sau cánh cửa buồng nhìn ra, rồi bị má nó đuổi ra chợ mua thêm bia. Giáp ngồi trên cái ghế nhựa đối diện hai chị em, hai bàn tay đặt trên đầu gối, như năm nào ngồi trước linh cữu ba.

– Chị Châm gửi lời thăm anh. – Tuyết nói.

Giáp gật đầu, mắt nhìn xuống.

– Chị Châm khỏe không?

– Dạ khỏe.

– Còn… mạ?

– Mạ khỏe. Năm ngoái mạ bị viêm phổi, giờ khỏe rồi.

Giáp gật đầu. Anh ta im một lúc lâu. Rồi anh ta ngẩng lên, nhìn thẳng vào Tuyết.

– Mấy cô vô đây hỏi chuyện chi, tui biết. Tui kể.

Và anh ta kể.

Anh ta không nhớ gì về Huế. Không nhớ cha, không nhớ mẹ, không nhớ trận đánh. Anh ta chỉ nhớ, từ lúc biết nhớ, mình đã ở Sa Huỳnh, trong căn nhà lá của ông Tư Lù và bà Tư Lù, hai vợ chồng ngư dân không có con. Ông bà kể rằng năm Mậu Thân, có một chiếc ghe chở người tản cư từ Huế chạy vô, ghé Sa Huỳnh. Trên ghe có một bà già ôm một đứa nhỏ chừng một tuổi, nói là nhặt được ngoài Huế, không biết con ai. Bà già bệnh, chết trên ghe. Đứa nhỏ được ông bà Tư Lù nhận nuôi, đặt tên là Giáp, khai năm sinh là sáu bảy, vì đoán vậy.

– Tui lớn lên ở đây. – Anh ta nói. – Đi biển từ năm tám tuổi. Ông bà nuôi tui mất năm tám chín. Tui ở một mình, lấy vợ, có con. Tui không đi tìm cha mẹ. Tui nghĩ đi tìm làm chi, ba mươi năm rồi, ai còn nhớ ai.

– Rồi ba con tới. – Trà nói.

– Rồi ba cô tới. – Giáp nói. – Tháng Sáu năm chín tư. Ông Hoành dẫn vô.

Giáp kể ba ngồi ở đúng chỗ Tuyết đang ngồi, trong căn nhà lá cũ, giờ đã xây lại. Ba nhìn anh ta rất lâu. Hỏi anh ta nhiều chuyện. Có nhớ cái nón không. Có nhớ con dế không. Có nhớ bài ru nào không. Giáp không nhớ gì. Ba lấy trong túi ra một tấm ảnh mạ hồi trẻ, cho anh ta xem. Anh ta nhìn, không thấy gì quen.

– Mà ba cô khóc. – Giáp nói. – Ông khóc mà không ra tiếng. Ông nói tui có cái trán giống mạ cô. Ông nói tui ngồi giống ổng. Tui không biết mấy cái đó có đúng không. Tui chỉ biết, hai mươi mấy năm tui sống, chưa có ai ngồi trước mặt tui mà khóc vì tui.

Anh ta ngừng lại. Ngoài sân, gió biển thổi qua mấy tấm lưới đang phơi, làm chúng phồng lên như những cánh buồm nhỏ.

– Ba tháng sau ông vô lại. Đem theo vàng, đem theo bộ đồ đục. Ông ở lại mười ngày. Ông chưa từng đóng ghe, nên ông đi theo thợ đóng ghe trong xóm, học, rồi ông làm cái đà mũi. Ông làm từ sáng tới tối. Rồi ông khắc con dế. Tui hỏi khắc con dế làm chi, ghe người ta vẽ mắt cho thấy đường. Ông nói con dế nó biết đường về. Ông nói: khi mô con muốn về nhà thì về.

Trà lấy tay áo lau mắt. Tuyết ngồi im, hai tay nắm chặt con dế gỗ trong lòng.

– Anh Giáp. – Tuyết nói. – Anh có nghĩ anh là anh Ân không?

Giáp nhìn chị. Lâu lắm. Rồi anh ta nhìn lên bàn thờ, lên tấm ảnh ba.

– Tui có phải anh mấy cô không, tui cũng không biết. – Anh ta nói. – Ba cô tin. Mạ cô thì… mạ cô sờ tai tui, rồi mạ cô buông ra. Tui biết mạ cô không tin. Tui không trách. Chính tui cũng không biết tin cái chi.

– Còn sáu cây vàng. – Tuyết nói. – Ông Hoành mười bốn năm nay tới đòi mạ. Ba năm trước em đem hai cây ra trả, ông không lấy. Ông nói nợ thì mạ trả, không phải con.

Giáp đang cầm chén nước chè, tay khựng lại giữa chừng. Mặt anh ta thay đổi. Không phải ngạc nhiên. Mà như một người vừa nghe nhắc tới một chuyện mình đã cố quên. Anh ta đặt chén xuống, rất chậm. Chị Sen đang ngồi ở cửa bếp, liếc sang chồng, rồi cúi mặt xuống.

– Rứa à. – Giáp chỉ nói vậy.

Tuyết nhìn anh ta. Chị chờ thêm. Không có thêm.

Trà là người phá tan im lặng. Nó lấy từ trong túi xách ra một tờ giấy in, gấp làm tư.

– Anh Giáp. – Nó nói. – Bây giờ có cách biết.

– Cách chi?

– Xét nghiệm. Lấy mẫu của anh, mẫu của mạ, gửi tới trung tâm xét nghiệm. Vài tuần là có kết quả. Biết chắc anh có phải con của mạ hay không.

Giáp nhìn tờ giấy trong tay Trà. Rồi nhìn vợ. Chị Sen đứng dậy, đi ra sân, đứng quay lưng lại phía trong nhà, nhìn ra biển.

– Mạ cô có chịu không? – Giáp hỏi.

– Em chưa hỏi. – Trà nói. – Em hỏi anh trước.

Giáp im rất lâu. Ngoài kia, sóng vỗ vào bờ cát, đều đều, như tiếng ai gõ nhẹ vào một cánh cửa.

Chiều hôm đó, trước khi về, Tuyết đi một mình ra bến. Mặt trời đã ngả về phía núi, nước vịnh chuyển sang màu đồng. Chị đứng trước chiếc ghe sơn xanh, nhìn con dế trên đà mũi. Dưới ánh chiều nghiêng, những đường đục hiện rõ hơn bao giờ hết, sâu, chắc, từng nét một. Chị đưa tay chạm vào nó, lần đầu tiên, tay của chị chạm vào nét tay của ba sau mười bốn năm.

Ba đi vay sáu cây vàng. Ba đi học đóng ghe ở tuổi năm mươi bảy. Ba khắc một con dế để con trai nhớ đường về. Ba không biết mình có đúng hay không.

Tuyết đứng đó cho tới khi trời tối, không biết mình đang chờ điều gì. Chỉ biết rằng, lần đầu tiên trong mười bốn năm, chị không còn giận ba nữa.

— Hết chương 16 —

Mục lục Bốn chị em nhà rường Bao Vinh

  1. 1Hai người lạ ở đám tang ba12 phút đọc
  2. 2Năm ni chưa có10 phút đọc
  3. 3Chuyến tàu ngày mười bốn tháng Hai10 phút đọc
  4. 4Lá thư gửi mạ từ Sa Huỳnh10 phút đọc
  5. 5Tấm áo dài may dở11 phút đọc
  6. 6Hội thi áo dài của phường11 phút đọc
  7. 7Đám cưới trong hẻm Sài Gòn11 phút đọc
  8. 8Người khách tháng Chín10 phút đọc
  9. 9Đêm nước lên tới xà ngang11 phút đọc
  10. 10Xưởng bốn máy gần chợ Bình Tây11 phút đọc
  11. 11Rước dâu bằng ghe ở Năm Căn11 phút đọc
  12. 12Bà Hoành khóc ở chái đông11 phút đọc
  13. 13Con dế gỗ ở Mỹ Xuyên12 phút đọc
  14. 14Hai cây vàng trên mâm trà10 phút đọc
  15. 15Cuộc cãi nhau dưới bốn cột cái10 phút đọc
  16. 16Con dế trên đà mũi ghe12 phút đọc
  17. 17Tết có thêm một người10 phút đọc
  18. 18Không cùng huyết thống10 phút đọc

Về truyện này

Bốn chị em nhà rường Bao Vinh là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Khánh của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →