Chương 12: Bà Hoành khóc ở chái đông
Khỏe ra Huế đúng ba ngày thì bị cảm.
– Trời đất ơi, sao ngoài này lạnh vậy bà xã? – Anh nằm trùm chăn trên bộ ván gian bên, chỉ ló ra cái mũi đỏ chót. – Mười tám độ! Sài Gòn mười tám độ là người ta chết cóng hết rồi!
– Ở Huế mười tám độ là trời đẹp. – Tuyết nói, đặt lên trán chồng cái khăn nhúng nước ấm. – Ông nằm im đi.
– Tui nằm im mà lạnh vẫn chạy vô.
Bên kia hàng rào, o Lành nghe thấy, cười ha hả, rồi sai con dâu bưng sang một tô cháo hành tía tô nóng hổi, kèm một câu dặn với qua: "Ăn cho ra mồ hôi! Người Sài Gòn ra Huế là phải tập ăn cháo!"
Đó là cái Tết đầu tiên trong bảy năm Tuyết về Huế. Năm nay xưởng làm ăn được, chị đóng cửa từ hai mươi lăm tháng Chạp, cho hai cô thợ về quê, rồi dắt chồng con ra tàu. Thằng Bắp hai tuổi rưỡi, lần đầu thấy nhà rường, chạy tới chạy lui dưới bốn cây cột cái, ôm từng cây, ngửa cổ nhìn lên, hỏi "cột gì to dữ vậy mẹ". Nó nói giọng Sài Gòn, gọi mạ là "bà ngoại", gọi Châm là "dì Hai", gọi o Lành là "bà bún". O Lành nghe tới chữ "bà bún" thì ôm bụng cười, cho nó một cái móng giò không lấy tiền.
Quyến không về được. Đầu tháng Giêng dương lịch, Quyến sinh một đứa con gái, đặt tên ở nhà là Tép, vì Út Rớt nói đẻ ra nhỏ xíu như con tép. Quyến gọi điện ra, kể rằng bà Tư Kiểng thức suốt đêm bế cháu, ru bằng bài vọng cổ, mà con Tép nghe vọng cổ thì ngủ ngay.
– Mạ ru bài con dế than mưa cho nó thử. – Mạ nói qua điện thoại. – Ru bốn câu thôi.
Tuyết nghe vậy, ghé tai vào gần ống nghe. Chị nghe mạ đọc lại cho Quyến bốn câu ru, chậm rãi, từng chữ một. Chị nhẩm theo. Bảy năm nay chị chỉ thuộc hai câu đầu, giờ chị thuộc thêm hai câu sau.
Mùng Bốn Tết năm Nhâm Ngọ, chín giờ sáng, xe tải xanh rêu đỗ trước cổng tre.
Tuyết đứng ở hiên, nhìn ra. Bảy năm trước chị đứng ở đúng chỗ này, chống nạnh, chặn lối ông Hoành. Giờ chị chỉ đứng nhìn. Chị nghe chị Châm kể hết rồi: mỗi năm một lần, mùng Bốn, chín giờ, hai câu, đĩa mứt gừng, chén trà sen. Bảy năm, không năm nào thiếu.
Năm nay có khác. Ông Hoành xuống xe trước, rồi đi vòng sang phía cửa bên kia. Người đàn ông đội mũ lưỡi trai, mà Tuyết giờ đã biết tên là Chương, cũng xuống, đi vòng sang. Hai cha con đỡ một người đàn bà bước xuống.
Bà nhỏ người, gầy tới mức cái áo len màu nâu khoác ngoài như treo trên móc áo. Da bà vàng, cái màu vàng không giống da người, mà giống màu lá nón phơi quá nắng. Bà quấn một cái khăn len quanh đầu, bước từng bước ngắn, hai tay bám vào hai cánh tay hai người đàn ông.
Mạ đã ra tới cổng.
– Đây là bà nhà tui. – Ông Hoành nói. – Bả muốn ra thăm o.
Người đàn bà ngẩng lên nhìn mạ. Tuyết đứng xa, nhưng chị thấy rõ khuôn mặt bà lúc đó: hai con mắt trũng sâu, mở to, nhìn mạ chằm chằm như nhìn một thứ gì đó rất xa mà bất chợt hiện ra trước mặt. Môi bà mấp máy. Không có tiếng.
– Chào chị. – Mạ nói. – Vô nhà.
Họ đỡ bà vào. Bà đi chậm, mỗi bước dừng lại thở. Bà nhìn quanh cái sân, cây khế, cái giếng, mái ngói, như người đang cố nhớ lại một nơi mình chưa từng tới. Thằng Bắp đang chơi dưới gốc khế, thấy người lạ thì chạy lại nấp sau chân Tuyết, ló đầu ra nhìn.
Ở gian giữa, ông Hoành ngồi xuống bộ ván, đối diện mạ, như bảy năm nay. Châm rót trà. Đĩa mứt gừng. Người đàn bà được dìu ngồi cạnh chồng, nhưng bà ngồi không yên. Bà cứ nhìn quanh, nhìn bốn cây cột cái, nhìn bàn thờ, nhìn tấm di ảnh ba, nhìn mạ.
– Năm ni chưa có. – Mạ nói.
– Thì năm sau. – Ông Hoành nói. Giọng ông nhỏ hơn mọi năm.
Rồi không ai nói gì. Ông Hoành không kể chuyện gỗ, chuyện mưa, chuyện nhà rường bên Kim Long. Ông chỉ ngồi uống trà, mắt liếc sang vợ. Chương thì không vào. Anh ta đứng ngoài hiên, dựa lưng vào cột, đội mũ, hút thuốc, nhìn ra sông.
Được một lúc, người đàn bà thở dốc. Bà đưa tay lên ngực.
– Bả mệt. – Ông Hoành nói, đứng dậy. – Thôi tụi tui về.
– Cho chị nằm nghỉ một chút đã. – Mạ nói. – Đi đường xa. Châm, dọn cái ghế dài trong chái cho bác nằm.
Chái đông là chỗ Châm may. Từ sau trận lụt, chị đã mua lại cái máy may khác, kê lại bàn cắt, và ở góc chái có một cái ghế dài bằng gỗ để khách ngồi chờ thử áo. Trên vách, phía trên cái ghế, mạ treo mấy chiếc nón mới chằm xong, xếp thành một hàng, chờ đem ra chợ. Phía sau hàng nón là ô cửa sổ quay về hướng đông nam. Gần mười giờ sáng, nắng xuyên qua ô cửa đó, rọi thẳng vào lưng những chiếc nón.
Châm và Tuyết dìu người đàn bà vào, đỡ bà nằm xuống cái ghế dài. Tuyết kê cái gối dưới đầu bà. Bà nằm im, thở khó nhọc, mắt nhìn lên.
Rồi bà thấy.
Tuyết không biết bà thấy gì. Chị chỉ thấy người đàn bà đang nằm bỗng cứng người lại. Hai mắt bà mở to, nhìn lên hàng nón trên vách. Nắng rọi xuyên qua lá, và trong lòng mỗi chiếc nón hiện lên những hình bóng mờ mờ: con đò, hàng tre, câu thơ. Và dưới chỗ buộc quai của từng chiếc, một con dế nhỏ, một cái râu cong gập.
Người đàn bà chống tay ngồi dậy. Châm vội đỡ, nhưng bà gạt tay chị ra. Bà đứng lên, run rẩy, một tay vịn vách, đi tới chỗ hàng nón. Bà đưa tay lên, chạm vào chiếc nón gần nhất, ngón tay lần trên lớp lá, đúng chỗ con dế.
Rồi bà quay lại, tìm mạ.
Mạ vừa đi tới cửa chái. Người đàn bà buông chiếc nón, đi về phía mạ, hai bước, ba bước, rồi nắm lấy hai bàn tay mạ. Bà nắm chặt tới mức các khớp ngón tay trắng bệch. Bà nhìn mạ, môi run, miệng mở ra, rồi đóng lại, rồi mở ra.
Không có chữ nào thoát ra được. Chỉ có tiếng khóc.
Bà khóc như một đứa con nít bị lạc. Khóc nấc từng cơn, đôi vai gầy run lên dưới lớp áo len. Bà cúi đầu xuống, trán chạm vào hai bàn tay mạ đang bị bà nắm chặt, và khóc.
Mạ đứng im. Mạ không hiểu. Tuyết nhìn mặt mạ và biết chắc mạ không hiểu. Nhưng mạ không rút tay ra. Mạ để yên cho người đàn bà xa lạ nắm, khóc, run rẩy. Rồi mạ làm một việc mà Tuyết chưa thấy mạ làm với ai ngoài người nhà: mạ rút một tay ra, đặt lên lưng người đàn bà, vỗ nhẹ, đều đều, như vỗ một đứa nhỏ.
Ông Hoành chạy vào. Mặt ông tái mét.
– Bả bệnh. – Ông nói nhanh, giọng gấp gáp. – Bả bệnh, bả hay khóc. O đừng để ý. Thôi tụi tui về. Chương! Chương, vô đỡ má!
Chương vào. Anh ta nhìn mẹ mình, ngơ ngác, rồi nhẹ nhàng gỡ tay bà ra khỏi tay mạ, đỡ lấy bà. Bà không cưỡng lại. Bà để con dìu ra, nhưng đầu vẫn ngoái lại, mắt vẫn nhìn mạ, nhìn hàng nón trên vách, cho tới khi khuất sau cánh cửa gian giữa.
Tuyết chạy ra theo. Ông Hoành đã mở cửa xe, đỡ vợ lên. Chương đứng bên cạnh. Lúc ông Hoành vòng sang phía cửa lái, Tuyết bước tới gần Chương.
– Má anh có chuyện chi không?
Chương lắc đầu. Anh ta đứng nhìn qua cửa kính xe, nơi mẹ anh ta đang ngồi co ro, mặt úp vào hai bàn tay.
– Tui không biết. – Anh ta nói. – Má tui chưa từng khóc kiểu ni.
Xe chạy. Tuyết đứng ở cổng tre, nhìn theo cho tới khi chiếc xe khuất sau chợ. Chị quay vào. Mạ vẫn đứng ở cửa chái đông, nhìn lên hàng nón trên vách, nhìn rất lâu, như cố đọc một dòng chữ mà người khác vừa thấy, còn mạ thì chưa.
Châm đứng bên mạ.
– Mạ. Bà Hoành thấy cái chi rứa mạ?
– Mạ không biết. – Mạ nói.
Lần này Tuyết tin. Lần này mạ không biết thật.
Tháng Năm năm đó, xưởng của Tuyết nhận được một đơn hàng lớn từ một cửa hàng ở Đà Nẵng. Ba ngàn cái áo sơ mi đồng phục cho một khách sạn mới mở. Tuyết đích thân đi giao đợt hàng đầu, ngồi xe tải chở hàng từ Sài Gòn ra, hai ngày một đêm. Giao xong, đang ngồi ăn tô mì Quảng ở một quán ven đường thì điện thoại di động reo. Chiếc điện thoại chị mới mua được ba tháng, vẫn còn dán nguyên miếng nylon trên màn hình.
Là chị Châm.
– Tuyết. Bà Hoành mất rồi. Hôm qua. Ông Hoành có gọi ra báo.
Tuyết đặt đũa xuống.
– Nhà ông ở mô?
– Chị có địa chỉ. Gần kho gỗ, trên đường đi Hội An.
Chiều đó Tuyết thuê xe ôm tới. Nhà ông Hoành là một căn nhà rường cũ, ba gian, nằm phía sau một bãi đất rộng chất đầy gỗ: cột, kèo, xà, những tấm vách chạm, những cánh cửa bức bàn tháo ra từ đâu đó, xếp chồng lên nhau dưới những tấm bạt xanh. Ngoài cổng dựng rạp trắng. Tiếng kèn đám ma réo rắt.
Ở bàn tiếp khách ngoài rạp có dán một tờ cáo phó. Tuyết đọc lướt qua. "Bà Nguyễn Thị Huê. Sinh năm 1946. Tạ thế ngày…" Chị không dừng lại ở cái tên. Cái tên không gợi cho chị điều gì. Từ trước tới giờ chị chỉ biết người đàn bà ấy là "bà Hoành", như cách người Huế gọi vợ theo tên chồng.
Chị vào thắp nhang. Bàn thờ đặt giữa gian chính, di ảnh bà Huê thời trẻ, tóc búi, mặc áo dài trắng, cười hiền. Hai bên bàn thờ chất đầy vòng hoa. Phía sau, trên một cái kệ gỗ treo cao, Tuyết liếc thấy hai thứ. Một là chiếc nón lá, nón Huế, treo trên đinh, quai lụa màu tím than, đã ngả màu. Hai là một cái hộp kính nhỏ, bên trong đặt một vật gì đó tròn tròn, trắng ngà, nhỏ chừng cái đĩa.
Chị nghĩ đó là cái nón đồ chơi của đứa cháu nào đó trong nhà. Chị không nhìn kỹ. Đám tang đông người, khói nhang mù mịt, mắt chị cay xè. Chị lạy, rồi lùi ra.
Chương đứng ở hàng con cháu, chít khăn tang trắng quấn kín đầu. Bên cạnh anh ta là một người đàn bà trạc ba mươi, chắc là vợ anh ta, và hai đứa nhỏ. Chương nhận ra Tuyết, gật đầu chào. Mắt anh ta đỏ hoe.
Ông Hoành ngồi trên chiếc ghế cạnh linh cữu. Ông già đi chục tuổi trong ba tháng. Ông thấy Tuyết, đứng dậy, đi ra.
– Con ra tận đây. – Ông nói. – Cảm ơn con.
– Dạ. Mạ con gửi lời chia buồn.
Ông Hoành gật đầu. Rồi ông nhìn Tuyết một lúc lâu, cái nhìn rất lạ, như người đang đứng trước một ngã ba mà không biết rẽ về đâu. Ông mở miệng định nói gì đó, rồi thôi. Rồi lại mở miệng.
– Con nói với mạ con. – Ông nói chậm rãi. – Năm ni tui không tới.
– Dạ?
– Tết năm ni. Tui không tới đòi nữa. Con nói với mạ con rứa.
Tuyết ngẩn người. Chị định hỏi tại sao, nhưng ông Hoành đã quay vào, ngồi xuống bên linh cữu, cúi đầu, hai bàn tay đan vào nhau giữa hai đầu gối.
Tuyết đứng ngoài rạp tang một lúc. Kèn đám ma vẫn réo rắt. Chị nghĩ tới câu "Năm ni chưa có" và "Thì năm sau" mà mạ với ông Hoành đã nói với nhau suốt bảy năm. Chị nghĩ có lẽ ông đau quá, ông mệt quá, ông thôi không muốn đòi nữa. Có lẽ cái chết của vợ làm ông thấy sáu cây vàng không còn đáng gì. Chị nghĩ vậy, và chị thấy thương ông già.
Tối đó chị gọi điện về nhà, kể lại cho mạ nghe. Mạ im lặng một lúc.
– Ừ. – Mạ nói.
Nhưng mùng Bốn Tết năm sau, chín giờ sáng, chiếc xe tải xanh rêu vẫn đỗ trước cổng tre.
— Hết chương 12 —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe