Chương 18: Không cùng huyết thống
Phong bì màu nâu, khổ A4, góc trên in tên trung tâm xét nghiệm bằng chữ xanh, dán tem chuyển phát nhanh. Người đưa thư đặt nó lên bàn cắt của xưởng lúc mười giờ sáng thứ Sáu, mười chín tháng Ba, giữa hai chồng áo sơ mi đang chờ đóng gói.
Tuyết nhìn nó mười phút mà không mở.
Xưởng vẫn chạy. Chín cái máy may kêu đều như chín con ve. Mấy cô thợ cúi đầu ráp cổ, ráp tay, không ai để ý tới cái phong bì. Khỏe đã đi giao hàng từ sáng. Bắp đi học. Tuyết đứng ở bàn cắt, cầm cây kéo trong tay, nhìn cái phong bì nằm đó, như nhìn một con rắn đang ngủ.
Bốn tháng chờ. Bốn tháng chị tự nhủ không nghĩ tới, rồi đêm nào cũng nghĩ tới. Bốn tháng chị tưởng tượng ra cảnh này, cảnh chị mở phong bì, đọc kết quả, rồi gọi về Huế. Lần nào trong tưởng tượng, kết quả cũng khác nhau. Có lần là "có". Có lần là "không". Có lần chị mở ra mà không đọc được chữ nào.
Chị đặt cây kéo xuống. Chị cầm phong bì lên, đi ra phía sau xưởng, chỗ cái bếp ga mini dưới gầm cầu thang, nơi không ai thấy. Chị ngồi xuống cái ghế đẩu, dùng móng tay rạch mép phong bì.
Bên trong là hai tờ giấy. Tờ thứ nhất là một cái bảng dài, kín những con số và ký hiệu mà chị không hiểu. Tờ thứ hai có một đoạn văn ngắn, in đậm ở cuối.
Chị đọc đoạn in đậm.
"Kết luận: Bà Tôn Nữ Thị Thuần và ông Trần Văn Giáp không có quan hệ huyết thống mẹ – con."
Chị đọc lại lần thứ hai. Rồi lần thứ ba. Mỗi chữ rõ ràng, sắc nét, không thể đọc nhầm.
Không có quan hệ huyết thống.
Chị ngồi đó. Tiếng máy may ở phía trước vọng lại, đều đều, xa xăm. Một con thằn lằn bò ngang trên bức tường xi măng ẩm mốc trước mặt chị, dừng lại, nhìn chị, rồi bò tiếp.
Chị không khóc. Chị ngạc nhiên vì mình không khóc. Chị chỉ thấy trống rỗng, như một căn phòng vừa dọn sạch đồ đạc, nghe được cả tiếng vọng của chính mình.
Anh Giáp không phải anh Ân.
Ba đã sai.
Ba đi vay sáu cây vàng, ba đi học đóng ghe ở tuổi năm mươi bảy, ba khắc con dế lên mũi ghe cho một người không phải con mình. Mười lăm năm cả nhà gánh món nợ ấy. Mười lăm năm mạ ngồi trên bộ ván, nói "Năm ni chưa có". Mười lăm năm chị Châm may áo, chị Quyến khóc, con Trà tính lãi. Tất cả cho một người không phải anh Ân.
Chị cầm điện thoại lên. Ngón tay chị lướt qua số của nhà rường, dừng lại. Rồi chị bấm số của chị Châm.
Chị Châm nghe máy sau hồi chuông thứ hai, như đã ngồi chờ sẵn.
– Tuyết.
– Kết quả về rồi chị.
Đầu dây bên kia im lặng.
– Không phải. – Tuyết nói. – Anh Giáp không phải.
Im lặng thêm một lúc lâu. Tuyết nghe tiếng máy may của chị Châm đã ngừng. Nghe tiếng gió thổi qua mái ngói ở Bao Vinh, xa cả ngàn cây số. Nghe tiếng chị Châm thở.
– Ừ. – Chị Châm nói.
Lần đầu tiên trong đời, Tuyết nghe chị Châm nói chữ "Ừ" giống hệt mạ.
– Chị nói với mạ giùm em. – Tuyết nói. – Em không nói được.
– Ừ. Để chị nói.
– Chị Châm.
– Gì em?
Tuyết ngập ngừng. Mười sáu tháng trước, ở chái đông, chị đã nói "Chị nói dối em". Từ hôm đó tới giờ, hai chị em vẫn gặp nhau, vẫn ăn chung mâm cơm Tết, vẫn cùng leo lên gác, mà chưa nói với nhau một câu nào cho ra câu. Chị muốn nói xin lỗi. Chị muốn nói em nhớ chị. Chị muốn nói nhiều thứ.
– Chị coi mạ nghe chị. – Tuyết nói.
Đó là câu chị đã gọi với ra từ cửa sổ toa tàu mười lăm năm trước. Chị Châm ở đầu dây bên kia im một lúc, rồi Tuyết nghe một tiếng gì đó như tiếng cười, như tiếng nghẹn.
– Ừ. – Chị Châm nói. – Chị coi.
Hai tiếng sau, chị Châm gọi lại.
– Chị nói với mạ rồi.
– Mạ nói chi?
– Mạ không nói chi. Mạ nghe xong, mạ ngồi im một lúc. Rồi mạ biểu chị bắc cái thang.
– Thang?
– Thang lên gác. – Chị Châm nói. – Mạ leo lên. Từ đêm lụt tới giờ mạ không leo lên gác lần nào. Chị đỡ mạ từng bậc. Mạ lên tới nơi thì đi thẳng tới đầu hồi phía đông. Mạ ngồi xuống dưới cái tên anh Ân. Ngồi đó tới giờ.
– Mạ có khóc không chị?
– Không. Mạ chỉ ngồi. – Chị Châm ngừng lại. – Tuyết. Chị nghĩ mạ biết từ trước. Từ hồi mạ sờ tai anh Giáp năm chín chín. Mạ biết rồi. Mạ chỉ chờ có người nói ra.
Tuyết cúp máy. Chị ngồi lại một lúc dưới gầm cầu thang, rồi bấm số thứ ba. Một số điện thoại di động ở Sa Huỳnh mà chị đã lưu từ tháng Sáu năm ngoái, chưa gọi lần nào.
Chuông đổ năm hồi. Rồi có tiếng ồn ào, tiếng sóng, tiếng máy nổ, tiếng ai đó la lối. Rồi giọng Giáp, khàn, to, như người đang đứng giữa gió.
– A lô! Ai đó?
– Anh Giáp. Em Tuyết đây.
Tiếng ồn ào ở đầu dây bên kia nhỏ dần, như Giáp đang đi ra xa khỏi chỗ đông người. Rồi chỉ còn tiếng sóng.
– Chị Tuyết.
– Kết quả về rồi anh.
Giáp im. Tiếng sóng vỗ đều đều qua điện thoại.
– Không phải, anh. – Tuyết nói. Chị nói thật nhẹ, như sợ làm vỡ một cái gì đó. – Anh không phải con mạ.
Im lặng kéo dài. Lâu tới mức Tuyết tưởng mất sóng. Chị nhìn màn hình điện thoại, vẫn thấy đồng hồ cuộc gọi chạy. Một phút. Một phút mười giây.
– Tui biết rồi. – Giáp nói.
– Anh biết?
– Tui biết từ năm chín chín. Từ cái hôm mạ sờ tai tui rồi buông ra. – Giọng anh ta khàn đặc. – Tui không biết mạ tìm cái chi trên tai tui. Nhưng tui thấy mặt mạ lúc buông tay. Tui biết là không có.
Tuyết nhắm mắt lại.
– Rứa răng anh còn chịu đi xét nghiệm?
– Tại tui muốn có tờ giấy. – Giáp nói. – Tui muốn ai đó nói thẳng ra, cho tui khỏi phải đoán. Bốn mươi hai năm tui đoán rồi, chị Tuyết. Đoán mệt lắm.
Tiếng sóng. Tiếng gió. Tiếng một con chim biển kêu xa xa.
– Anh Giáp. – Tuyết nói. – Ba thương anh thiệt. Có phải hay không phải, ba vẫn thương anh thiệt.
– Tui biết.
– Mạ cũng vậy. Tết rồi mạ lì xì anh giống thằng Bắp.
Giáp im. Rồi Tuyết nghe một tiếng gì đó qua điện thoại, rất khẽ, như tiếng người đàn ông cố nén mà không nén được.
– Chị Tuyết. – Anh ta nói, một lúc sau. – Tui… tui vẫn kêu bằng mạ được không?
Tuyết bật khóc. Lần đầu tiên từ sáng tới giờ. Chị ngồi dưới gầm cầu thang, ôm điện thoại, khóc như con nít.
– Được. – Chị nói, giữa tiếng nấc. – Được anh. Anh kêu bằng chi cũng được.
Họ nói chuyện thêm một lúc. Chuyện cá, chuyện con Muối học lớp Mười Một mà đòi nghỉ đi bán cá với má, chuyện thằng Bắp hỏi bao giờ cậu Giáp ra nữa. Những chuyện không đâu, chỉ để khỏi phải cúp máy. Rồi tới lúc Tuyết sắp chào, Giáp bỗng im.
– Chị Tuyết. Có một chuyện tui chưa nói.
Tuyết ngồi thẳng dậy.
– Chuyện chi anh?
– Chuyện ông Hoành.
Tiếng sóng ngoài kia như lớn hơn.
– Hôm chị với cô út vô Sa Huỳnh, chị nói ông Hoành không lấy hai cây vàng của chị. Tui ngồi đó, tui không nói. Tết rồi ra Huế, gặp ông, tui quay mặt đi. Chị có để ý không?
– Em có để ý.
– Tui có lý do. – Giáp nói. – Năm hai ngàn lẻ ba, tui gom đủ sáu cây vàng. Chín năm đi biển, tui để dành từng chỉ. Tui không đưa cho mạ được, mạ không nhận. Nên tui đem ra Đà Nẵng, tới kho gỗ ông Hoành, tui đặt lên bàn. Tui nói: nợ của ba tui, tui trả. Ông xóa nợ cho nhà mạ đi.
– Rồi ông nói răng?
– Ông không lấy. – Giáp nói. – Ông đẩy sáu cây vàng lại, y như chị kể. Ông nói nợ đó là của ông Lương, không phải của anh. Rồi ông…
Giáp ngừng lại.
– Rồi ông răng anh?
– Ông nhìn tui. Lạ lắm, chị Tuyết. Không phải nhìn như người giận. Như người sợ. Ông hỏi tui có hay ra Huế không. Tui nói không, chỉ một lần năm chín chín. Ông hỏi mạ có nhắc chuyện Mậu Thân với tui không. Tui nói có, ba nói tui giống người ba mạ mất. Rồi ông nói một câu, tui nhớ từng chữ tới giờ.
Tuyết nắm chặt điện thoại.
– Ông nói: "Anh muốn tốt cho bà Thuần thì đừng tới nhà đó nữa. Đừng vô Huế. Đừng nhắc chuyện Mậu Thân với ai trong nhà đó. Để cho bả yên."
Tuyết ngồi im. Tiếng máy may phía trước xưởng bỗng xa vời như ở một thế giới khác.
– Tui nghe lời ông. – Giáp nói tiếp. – Tui nghĩ ông nói đúng. Tui không phải con mạ, tui đến chỉ làm mạ đau thêm. Nên tui không ra nữa. Sáu năm tui không ra. Tới khi chị với cô út vô tìm tui, tui mới dám.
– Còn sáu cây vàng?
– Tui còn giữ. Ông không lấy thì tui giữ. Chôn dưới bàn thờ ông bà nuôi tui. – Giáp im một lúc. – Tui kể chị nghe, vì giờ tui biết tui không phải con mạ rồi. Tui không còn sợ làm hư chuyện của nhà mạ nữa. Chị muốn hiểu sao thì hiểu.
Tuyết cúp máy. Chị ngồi dưới gầm cầu thang rất lâu, tờ kết quả xét nghiệm đặt trên đùi, điện thoại nằm trong lòng bàn tay.
Ông Hoành không lấy hai cây vàng của chị. Ông Hoành không lấy sáu cây vàng của Giáp. Ông bảo Giáp đừng tới nhà rường. Ông bảo Giáp đừng nhắc chuyện Mậu Thân. Ông tái mặt khi thấy Giáp ngồi cạnh mạ. Ông không nói "Thì năm sau".
Nhưng mùng Bốn Tết nào ông cũng tới. Mười lăm năm, không sót năm nào. Kể cả năm vợ ông mất, năm ông đã nói "năm ni tui không tới". Kể cả bây giờ, khi lưng đã còng, khi phải chống gậy, khi chiếc xe tải cũ đã yếu tới mức không xả nổi khói. Mỗi năm, ông bắt con trai chở từ Đà Nẵng ra Huế, qua đèo Hải Vân, chỉ để ngồi trên một bộ ván, uống một chén trà, nghe một câu "Năm ni chưa có", rồi về.
Ông không cần vàng. Ông không lấy vàng của ai. Ông không muốn ai đụng tới chuyện năm Mậu Thân.
Tuyết ngước lên, nhìn bức tường xi măng ẩm mốc trước mặt, nơi con thằn lằn ban sáng đã bò đi đâu mất.
Vậy thì suốt mười lăm năm qua, ông Hoành đã đòi nợ ai?
— Hết —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe