Chương 10: Xưởng bốn máy gần chợ Bình Tây
Tuyết ru thằng Bắp bằng một bài ru mà chị chỉ thuộc có hai câu.
– Ầu ơ… Con dế than mưa, than răng cho ướt cái bờ tre xưa…
Tới đó thì hết. Chị ru đi ru lại hai câu ấy, vừa ru vừa đạp máy may bằng chân phải, chân trái đưa cái võng treo giữa hai cây cột sắt của xưởng. Thằng Bắp mười tháng tuổi, nằm trong võng, mắt mở thao láo, nhìn lên trần tôn, không chịu ngủ. Nó nghe cái bài ru cụt lủn này từ hồi Tết tới giờ, có lẽ đã chán.
– Câu thứ ba là chi rứa Quyến? – Tuyết hỏi vọng sang.
Quyến ngồi ở máy may bên cạnh, cúi đầu ráp cổ áo.
– "Mạ ru con ngủ cho trưa".
– Còn câu thứ tư?
– "Mai con lớn dậy con chưa nhớ nhà".
– Chưa nhớ nhà. – Tuyết lặp lại. – Rứa là răng? Lớn rồi thì phải nhớ nhà chứ. Mạ đặt câu chi kỳ.
Quyến không trả lời. Nó cắn sợi chỉ, lật cái cổ áo ra xem, rồi đặt sang chồng bên cạnh.
Xưởng may của Tuyết nằm cuối một con hẻm gần chợ Bình Tây, trong căn nhà thuê có mặt tiền ba mét, sâu mười hai mét, mái tôn, nền xi măng. Bốn cái máy may công nghiệp mua lại của một xưởng phá sản ở Tân Bình, chạy kêu như bốn con ve sầu bị nhốt trong lon. Một cái bàn cắt dài, mấy cây sào phơi hàng mắc ngang trần, cái võng của Bắp, cái bếp ga mini dưới gầm cầu thang. Tháng Ba năm hai ngàn, Tuyết bỏ xưởng lớn ở Tân Bình, gom hết tiền dành dụm năm năm cộng tiền cưới, tiền Khỏe bán chiếc ba gác cũ để mua chiếc mới hơn, mở cái xưởng này. Làm gia công áo sơ mi, áo thun, quần tây cho mấy sạp trong chợ.
Bốn máy, bốn người: Tuyết, Quyến, và hai cô thợ người Long An. Khỏe chạy ba gác giao hàng, mỗi ngày đi về chợ Bình Tây, chợ An Đông, chợ Tân Bình, mồ hôi nhễ nhại, hắt xì liên tục vì bụi vải.
– Bà xã ơi! – Khỏe gọi từ ngoài đầu hẻm, chiếc ba gác chất đầy những bao vải mới. – Bà Lưu nói hàng đợt này may hai ngàn cái, mà giá giảm hai trăm đồng một cái!
– Giảm hai trăm? – Tuyết đứng bật dậy. – Đợt trước bả nói giữ giá tới Tết!
– Bả nói vải lên giá.
– Vải lên giá thì bả trả tiền vải, tui trả tiền công! Ông chở hết bao vô đây, rồi ông đi với tui ra gặp bả.
Bà Lưu là chủ ba sạp quần áo lớn trong chợ Bình Tây, người Hoa, sáu mươi tuổi, đeo kính trễ xuống mũi, nói tiếng Việt lơ lớ nhưng tính tiền nhanh hơn máy. Tuyết đứng trước sạp, hai tay chống nạnh, tính cho bà nghe bằng tiếng Huế pha giọng Sài Gòn: tiền chỉ bao nhiêu, tiền điện bao nhiêu, tiền thuê nhà bao nhiêu, công thợ bao nhiêu, mỗi cái áo chị lời được bao nhiêu. Bà Lưu nghe, gõ gõ bàn tính, nhíu mày, gõ lại.
– Cô Tuyết nói nhanh quá. – Bà nói. – Tui nghe không kịp.
– Rứa thì con nói chậm lại. – Tuyết nói, rồi nói lại y như cũ, chỉ chậm hơn một chút.
Nửa tiếng sau, bà Lưu đồng ý giữ giá cũ, với điều kiện giao hàng sớm hai ngày. Tuyết đồng ý ngay. Ra khỏi chợ, Khỏe đạp ba gác chở vợ ngồi trên thùng xe, vừa đạp vừa cười.
– Bà xã ghê thiệt. Bà Lưu chưa chịu thua ai hết.
– Bả không chịu thua. Bả chịu mệt.
Đêm, xưởng tắt máy, hai cô thợ về phòng trọ, Khỏe ngáy trên tầng gác lửng, Quyến đã ngủ trên cái chiếu cạnh võng Bắp. Tuyết ngồi một mình dưới ngọn đèn tuýp, tính sổ sách. Rồi chị gác bút, nhìn ra cái cửa sổ nhỏ, nơi có thể thấy một khoảng trời Sài Gòn đỏ quạch vì đèn đường.
Đã bảy tháng kể từ cái đêm chị nghe điện thoại của Châm.
Đó là giữa tháng Mười Một năm ngoái, một tuần sau lụt. Điện thoại nhà o Lành bị nước ngâm hỏng, Châm phải ra bưu điện gọi vào số máy của chủ nhà trọ. Giọng chị Châm qua điện thoại khàn, mệt, nói từng chữ như người đọc điện tín. Nhà còn. Mạ còn. Quyến, Trà còn. Máy may hư, lá nón hư hết, cái tủ thờ trôi ra tận cổng. Rồi chị Châm im một lúc, và kể chuyện cây thượng lương.
Tuyết nghe xong, không nói được câu nào. Chị đứng trong căn phòng của chủ nhà trọ, ống nghe áp vào tai, nhìn cái lịch treo tường có hình một cô gái mặc áo dài, nghe chị Châm thở ở đầu dây bên kia, nghe tiếng xe cộ ngoài bưu điện Huế, nghe tiếng tim mình đập.
– Còn anh Giáp? – Cuối cùng chị hỏi.
– Ba tin anh Giáp là anh Ân.
– Còn mạ?
– Mạ nói mạ không biết.
– Mạ không biết! – Tuyết bật lên. – Ba mươi năm mạ không biết! Ba mươi năm mạ giấu! Ba giấu! Chị Châm, chị có biết chi không? Chị có biết trước không?
Chị Châm im ba giây. Ba giây mà Tuyết nhớ mãi.
– Không. – Chị Châm nói. – Chị cũng mới biết, đêm lụt.
Tuyết tin. Chị không có lý do gì để không tin. Chị Châm chưa bao giờ nói dối ai.
Từ hôm đó, mỗi tuần Tuyết gọi về một lần. Cuối năm chín chín Châm đã lắp được cái điện thoại bàn ở nhà, đặt trên tủ thờ mới. Lần nào Tuyết cũng hỏi mạ. Hỏi anh Ân trông như thế nào. Hỏi anh Ân có giống ba không. Hỏi trạm cứu thương ở đâu, con nhỏ y tá phụ tên gì, mạ đã tìm những chỗ nào. Lần nào mạ cũng chỉ trả lời một chữ.
– Ừ.
– Mạ! Con hỏi mạ, mạ ừ cái chi?
– Ừ.
Có lần Tuyết đập ống nghe xuống, rồi ngồi khóc. Rồi lại bật cười, vì chị nhận ra mình vừa làm đúng cái việc mạ vẫn làm: nói một chữ, rồi thôi.
Tháng Năm năm hai ngàn, Tuyết quyết định tự đi tìm.
Chị không có nhiều thứ trong tay. Một cái tên: Hà Thúc Ân. Một năm sinh: tháng Mười năm Đinh Mùi. Một nơi chốn: một trạm cứu thương gần cầu Phú Cam, Tết Mậu Thân. Một đồ vật: cái nón nhỏ mạ chằm, nón trắng, quai đỏ, có con dế giấy bên trong. Và một chi tiết mơ hồ mà mạ kể đêm lụt: có một con nhỏ y tá phụ đã ẵm anh vô trạm. Không ai biết tên.
Chị đi tới tòa soạn một tờ báo có mục nhắn tìm người thân, ở trên đường lớn gần trung tâm. Cô nhân viên ngồi ở quầy đeo kính cận, ghi chép bằng bút bi xanh, hỏi chị muốn đăng bao nhiêu chữ.
– Bao nhiêu chữ thì bao nhiêu tiền?
– Hai mươi chữ đầu là bốn mươi nghìn. Mỗi chữ thêm hai nghìn.
Tuyết nhẩm tính. Rồi chị cầm cây bút, gạch đi gạch lại trên tờ giấy nháp gần mười phút. Cuối cùng, chị đưa cho cô nhân viên một mẩu tin bốn mươi mốt chữ:
"Tìm anh Hà Thúc Ân, sinh tháng Mười năm Đinh Mùi, lạc mẹ ở trạm cứu thương gần cầu Phú Cam, Huế, Tết Mậu Thân. Khi lạc đội nón lá nhỏ, quai đỏ. Ai biết xin báo về…"
Chị không ghi chi tiết con dế. Chị giữ lại nó, như người ta giữ lại một chìa khóa.
Mẩu tin đăng ba số liên tiếp. Tuần đầu tiên có bảy cuộc gọi tới số điện thoại của tiệm tạp hóa đầu hẻm. Bà chủ tiệm chạy vô xưởng gọi Tuyết bảy lần, lần sau mặt nhăn hơn lần trước.
Hai cuộc gọi là người ta gọi nhầm. Ba cuộc là các bà cụ, giọng run run, hỏi có phải chị cũng mất con hồi Mậu Thân không, họ cũng mất con, mất cháu, có biết ai tìm được không. Tuyết đứng giữa mấy thùng nước mắm trong tiệm tạp hóa, nghe từng bà kể, lâu thật lâu, không nỡ cúp máy. Cúp máy xong chị ra ngồi ở bậc cửa, không làm gì được trong cả buổi chiều.
Một cuộc là của bà bán vé số ở Chợ Lớn, hỏi đăng báo vậy có được thưởng gì không.
Cuộc còn lại là của một người đàn ông. Ông ta nói ông chính là Hà Thúc Ân.
Tuyết hẹn ông ta ở một quán cà phê vỉa hè gần chợ Bình Tây. Khỏe nhất định đi theo, ngồi bàn bên cạnh, giả bộ đọc báo, tờ báo cầm ngược. Người đàn ông tới trễ hai mươi phút, đi một chiếc xe máy cũ, áo sơ mi trắng bỏ thùng, đeo cái đồng hồ to. Ông ta khoảng ba lăm, ba sáu tuổi, mặt tròn, cười nhiều, nói giọng Huế nhưng phát âm chữ "r" rất lạ.
– Em gái! – Ông ta nói, ngồi xuống, nắm lấy tay Tuyết. – Anh tìm em ba mươi năm!
Tuyết rút tay ra.
– Anh kể đi.
Ông ta kể. Kể rằng ông bị lạc năm Mậu Thân, được một gia đình ở Đồng Nai nuôi, lớn lên đi bộ đội, giải ngũ làm ăn buôn bán, giờ đang gặp khó, cần vốn. Ông ta kể lưu loát, đầy đủ, như người đã kể câu chuyện này nhiều lần. Khi ông ta nói tới chữ "vốn" lần thứ ba, Tuyết hỏi:
– Mạ chằm cho anh một cái nón. Trong nón có con chi?
Ông ta khựng lại nửa giây. Rồi cười tươi.
– Con rồng! Nón Huế mà, phải có con rồng!
Tuyết đứng dậy, móc túi trả tiền hai ly cà phê, rồi bước ra. Ông ta gọi với theo. Khỏe gấp tờ báo lại, đứng dậy, đi theo vợ, đi ngang bàn ông ta thì dừng lại, hắt xì một cái rất to vào ngay mặt ông ta, rồi xin lỗi rất lịch sự.
Trên đường về, Tuyết ngồi trên thùng ba gác, im lặng. Khỏe đạp chậm.
– Bà xã buồn hả?
– Không. – Tuyết nói. – Tui tức.
– Tức ổng?
– Tức tui. Tui đi tìm anh tui, mà tui sợ tìm được. Ông nớ nói con rồng, tui mừng. Ông có hiểu không? Tui mừng vì ổng không phải.
Khỏe đạp thêm một đoạn.
– Tui hiểu. – Anh nói. – Tại nếu tìm được, thì bà phải thương thêm một người. Mà bà thì thương ai cũng mệt.
Tuyết nhìn lưng chồng, cái lưng gầy, áo ướt sũng mồ hôi. Chị không nói gì. Chị chỉ đưa tay ra, đặt lên lưng anh, và để yên đó cho tới khi về tới xưởng.
Mùa hè năm đó, xưởng có thêm một khách hàng lạ.
Anh ta xuất hiện lần đầu vào một sáng thứ Bảy, đứng ở cửa xưởng, tay xách một cái bao nylon đựng tôm khô, hỏi đường tới sạp của bà Lưu. Anh ta đen, chắc, tóc húi cua, mặc áo thun ba lỗ, quần đùi, đi dép tổ ong, nói chậm như người vừa ngủ dậy.
– Dạ, chị chỉ giùm em đường vô sạp bà Lưu. Em đi lạc nãy giờ, đi vòng ba vòng rồi.
Quyến ngồi gần cửa nhất, ngẩng lên chỉ đường. Anh ta cảm ơn, đi. Mười phút sau, anh ta quay lại, đứng đúng chỗ cũ.
– Dạ chị, em lại lạc.
Quyến chỉ lại. Lần này anh ta đi luôn. Tuần sau, anh ta lại tới, lại xách bao tôm khô, lại hỏi đường. Lần này anh ta để lại một bao tôm khô trên bàn cắt, nói là quà cho chị chỉ đường.
Tên anh ta là Rớt. Huỳnh Văn Rớt, thiên hạ gọi là Út Rớt. Hai mươi tám tuổi, nhà nuôi tôm ở Năm Căn, mỗi tháng chở tôm khô lên giao cho mấy sạp ở chợ Bình Tây. Cái tên Rớt là vì má anh ta đẻ anh ta trên ghe, giữa đường đi bệnh viện, đẻ rớt luôn trên ghe.
– Rứa răng không đặt tên là Ghe? – Quyến hỏi, hôm anh ta kể.
Út Rớt nghĩ một lúc lâu.
– Dạ, chắc tại má em thấy chữ Rớt dễ thương hơn.
Quyến cười tới đỏ mặt. Tuyết đứng ở bàn cắt, nhìn em gái cười, và có một linh cảm xấu.
Linh cảm của Tuyết thành sự thật vào một tối cuối tháng Mười. Xưởng đã tắt máy. Bắp đã ngủ. Quyến ngồi xuống cạnh chị ở bậc cửa, hai tay đan vào nhau, dáng ngồi y hệt mạ những lúc có chuyện khó nói.
– Chị Tuyết. Em muốn cưới anh Rớt.
Tuyết đang cầm cây kéo cắt chỉ thừa, tay dừng giữa chừng.
– Quen bao lâu rồi?
– Ba tháng.
– Ba tháng! Ở mô? Nhà ảnh ở mô?
– Năm Căn.
– Năm Căn là ở mô?
Quyến cúi đầu, giọng nhỏ như muỗi kêu.
– Ở mũi Cà Mau, chị.
Cây kéo rơi khỏi tay Tuyết, kêu một tiếng chát trên nền xi măng, nảy lên một cái, rồi nằm im.
— Hết chương 10 —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe