AI Truyện
Bốn chị em nhà rường Bao Vinh

🏠 Gia đình & vả mặt

Con dế gỗ ở Mỹ Xuyên

Bốn chị em nhà rường Bao Vinh · Chương 13/18 · Sáng tác: AI Truyện

📖 12 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 13: Con dế gỗ ở Mỹ Xuyên

– Bốn chục triệu! – Tuyết hét. – Ông đưa cho thằng Lộc bốn chục triệu!

– Nó nói một tuần nó trả.

– Một tuần! Ba tháng rồi! Ba tháng rồi ông ơi!

Khỏe ngồi trên cái ghế đẩu trong góc xưởng, hai tay ôm đầu, không cãi. Mấy cô thợ đã về phòng trọ từ lâu. Thằng Bắp bốn tuổi ngủ trên gác lửng, may mà nó ngủ say. Ngoài hẻm, tiếng người bán chè đậu đỏ rao khàn khàn, rồi xa dần.

Tuyết đứng giữa xưởng, giữa bốn cái máy may cũ và hai cái máy mới mua hồi đầu năm, tay cầm cuốn sổ ngân hàng. Bốn mươi triệu là tiền chị dành dụm ba năm để mua thêm bốn cái máy, thuê thêm bốn người thợ, nhận được đơn hàng của cái khách sạn Đà Nẵng năm sau. Bốn mươi triệu. Chị đã tính từng đồng, từng ngày, từng cái áo.

– Ông lấy tiền đó hồi mô? Lấy bằng cách mô?

– Tui… tui rút ở ngân hàng. Bà xã đưa sổ cho tui đi gửi thêm hồi tháng Năm, tui…

– Ông rút!

– Thằng Lộc nó khóc. – Khỏe ngẩng lên, mắt đỏ hoe. – Nó nói má nó nằm viện, phải mổ, không có tiền thì bệnh viện không mổ. Nó quỳ xuống trước mặt tui. Tui chơi với nó từ hồi mười tuổi, bà xã. Nó chưa từng quỳ trước ai.

– Má nó nằm viện nào? Ông có vô thăm không?

Khỏe im.

– Ông có vô thăm không?

– Không. – Anh nói nhỏ. – Tui hỏi, nó nói viện xa, để nó lo.

Tuyết ném cuốn sổ ngân hàng xuống bàn cắt. Nó trượt trên mặt gỗ, rơi xuống sàn, mở toang ra, mấy trang giấy in số dư lật phành phạch dưới quạt trần.

Hôm qua chị mới biết. Một người bạn khác của Khỏe vô tình kể rằng thằng Lộc đã đi Campuchia từ ba tháng trước, nợ nần khắp nơi, má nó vẫn khỏe mạnh bán xôi ở chợ Phú Lâm. Không có ca mổ nào. Không có bệnh viện nào. Chỉ có Khỏe, cả tin như một đứa con nít, và bốn mươi triệu biến mất.

Đêm đó Tuyết không ngủ. Sáng hôm sau, chị gói đồ vào cái túi xách, giao xưởng cho cô thợ lâu năm nhất, gửi Bắp cho bà Năm Xoài, rồi ra ga mua vé tàu đi Huế.

– Bà xã đi đâu? – Khỏe chạy theo ra tới đầu hẻm.

– Về Huế.

– Chừng nào bà về?

Tuyết không trả lời. Chị leo lên xe ôm, không ngoái lại.

Tàu chạy hai ngày, tới Huế vào một buổi trưa tháng Tám, trời nóng hầm hập, gió Lào thổi rát mặt. Tuyết xách túi đi bộ từ ga ra đường lớn, bắt xe ôm về Bao Vinh. Chị không báo trước. Lúc chị đẩy cổng tre bước vào, mạ đang ngồi chằm nón dưới hiên, ngẩng lên nhìn, không ngạc nhiên.

– Về rồi à.

– Dạ.

– Ăn cơm chưa?

– Chưa.

– Vô ăn.

Mạ không hỏi tại sao. Mạ không hỏi Khỏe đâu, Bắp đâu. Mạ chỉ đứng dậy, vào bếp, hâm lại nồi canh bí, chiên thêm hai quả trứng. Tuyết ngồi ở mâm cơm dưới bếp, ăn từng miếng, và tới miếng thứ ba thì chị bật khóc. Mạ ngồi bên cạnh, không nói gì, chỉ đẩy đĩa trứng lại gần chị hơn.

Mấy ngày đầu Tuyết ngủ. Ngủ như người chưa từng được ngủ. Tám năm ở Sài Gòn, chưa đêm nào chị ngủ quá sáu tiếng. Ở đây, trong căn buồng cũ của mình, nghe tiếng máy may của chị Châm, tiếng kim xuyên lá của mạ, tiếng rao bún bò của o Lành, chị ngủ từ chín giờ tối tới chín giờ sáng.

Chị Châm kể chuyện Tết vừa rồi. Mùng Bốn, chín giờ, ông Hoành vẫn tới, như chưa từng nói câu "năm ni tui không tới". Ông ngồi ở bộ ván, uống trà, hai câu cũ, rồi về sớm. Lần này Chương không xuống xe, ngồi lì trong ca-bin, mũ kéo sụp xuống trán. Mạ bưng ra một chén trà định mời anh ta, ông Hoành xua tay: "Nó đang say xe, o để nó ngồi đó."

– Đà Nẵng ra Huế mà say xe. – Chị Châm nói. – Năm nào cũng lái, năm ni mới say.

Trà đi làm về thì ngồi kể chuyện. Hai năm nay con út làm ở một chi nhánh ngân hàng trên đường Lê Lợi, mặc áo sơ mi trắng, váy đen, đi xe máy, nói chuyện toàn những chữ như "dư nợ", "nợ xấu", "phương án trả nợ". Nghe chuyện bốn mươi triệu, Trà nhíu mày.

– Có giấy tờ vay không chị?

– Không có.

– Có ai làm chứng không?

– Không.

– Rứa thì coi như mất. – Trà nói, gọn như đọc kết luận thẩm định. – Chị đừng tính thu hồi. Chị tính lại dòng tiền. Bốn chục triệu chia ba năm thì mỗi tháng thiếu một triệu mốt. Xưởng chị một tháng lời bao nhiêu?

– Bốn, năm triệu.

– Rứa thì không chết. Chỉ chậm.

Tuyết nhìn em út, đứa em năm nào còn ôm con mèo tam thể đứng khóc ở đám tang ba.

– Mi lớn hồi mô rứa Trà?

– Từ hồi em năm tuổi, bị chị Tuyết bắt xách nước cho chị tắm. – Trà nói, rồi cười.

Tuần thứ hai, Tuyết mượn chiếc xe máy của Trà, chạy lên làng Mỹ Xuyên thăm chú Ngạn.

Mỹ Xuyên cách Huế chừng ba chục cây số về phía tây bắc, theo quốc lộ rồi rẽ vào con đường đất đỏ chạy giữa đồng lúa. Làng thợ mộc. Nhà nào cũng có xưởng, sân nào cũng chất gỗ, đi tới đâu cũng nghe tiếng đục, tiếng bào, tiếng cưa. Mùi mùn cưa thơm ngai ngái trong nắng. Tuyết nhớ hồi nhỏ ba hay chở chị lên đây, cho chị ngồi trên đống phôi bào chơi, nhặt những sợi phôi xoăn tít đeo làm nhẫn.

Chú Ngạn năm mươi tám tuổi, tóc bạc trắng, lưng còng vì cả đời cúi xuống bàn bào. Chú đang ngồi đục một tấm diềm chạm hoa sen cho một ngôi đình trong làng. Thấy Tuyết, chú buông cái đục, đứng dậy, nheo mắt nhìn.

– Con Tuyết hả bây? Con Tuyết đi Sài Gòn đó hả?

– Dạ chú.

– Trời đất, mập ra rồi. Ngồi, ngồi.

Hai chú cháu ngồi ở hiên xưởng, uống trà xanh nấu bằng lá chè tươi, đắng chát. Chú hỏi chuyện Sài Gòn, chuyện xưởng may, chuyện thằng Bắp. Tuyết kể. Rồi chị hỏi chuyện ba.

– Chú ơi. Năm chín tư, ba có đi Quảng Ngãi không chú?

Chú Ngạn đặt chén trà xuống. Chú nhìn Tuyết một lúc lâu, rồi nhìn ra sân, nơi mấy cây gỗ kiền kiền đang phơi nắng.

– Bây biết chuyện rồi hả?

– Con biết chuyện anh Ân. Biết chuyện anh Giáp. Mà con không biết chuyện ba.

Chú Ngạn thở dài. Chú rút trong túi áo ra gói thuốc rê, cuốn một điếu, châm lửa, rít một hơi dài.

– Ba bây đi hai lần. – Chú nói. – Lần đầu tháng Sáu, tháng Bảy chi đó. Đi với cái ông buôn gỗ người Quảng, ông Hoành. Ổng chở ba bây vô bằng xe tải. Về ba bây không nói chi hết, ngồi uống rượu với tau tới khuya, uống mà không nói, chỉ khóc. Ba bây chưa từng khóc trước mặt tau, từ hồi nhỏ tới lớn.

Tuyết nắm chặt chén trà.

– Lần thứ hai cuối năm. Lần ni ba bây đi một mình. Ba bây lên đây mượn tau bộ đục. Bộ đục tốt nhất của tau, bộ ông nội để lại. Tau hỏi đi mô, ba bây nói vô Sa Huỳnh đục mũi ghe cho người ta. Tau nói anh điên à, anh làm nhà rường cả đời, anh biết chi mà đục ghe. Ba bây nói thì học.

Chú Ngạn rít thêm hơi thuốc.

– Mười ngày sau ba bây về, trả bộ đục. Ba bây khoe với tau cái hình vẽ trên giấy, hình cái đà mũi ghe. Trên đó ba bây khắc một con dế. Giống con dế trên cái khuôn chằm nón của mạ bây.

– Con dế. – Tuyết lặp lại.

– Ba bây nói: khắc lên đó cho nó nhớ. Tau hỏi nhớ cái chi. Ba bây nói nhớ nhà.

Gió từ cánh đồng thổi qua, lùa vào hiên xưởng, mang theo mùi lúa chín. Tuyết ngồi im. Chị nghĩ tới cái bài ru chỉ có bốn câu. "Mai con lớn dậy con chưa nhớ nhà." Chị nghĩ tới con dế trên cây thượng lương, bên cạnh cái tên Ân. Chị nghĩ tới ba, người đàn ông cả đời chỉ biết dựng nhà, đi vào tận một làng chài xa lạ để đục mũi ghe cho một người mà ông tin là con mình, để đứa con ấy, mỗi lần ra khơi, có một thứ gì đó nhắc nó nhớ đường về.

– Chú. – Chị hỏi. – Chú có tin anh Giáp là anh Ân không?

Chú Ngạn dụi điếu thuốc vào cái gạt tàn bằng gáo dừa.

– Tau nói với ba bây là ba bây điên. – Chú nói. – Mặt thằng nớ không giống ai trong nhà. Không giống ba bây, không giống mạ bây. Mà ba bây không nghe. Ba bây nói: có những đứa con không giống cha mẹ, mà vẫn là con.

Chú ngừng một chút.

– Tau không biết. Tau chỉ biết ba bây hai mươi sáu năm đi tìm. Tìm ở chùa, ở nhà thờ, ở trại mồ côi, ở mấy cái làng quanh Phú Cam. Đi một mình, không nói với ai, cả mạ bây cũng không nói. Tới năm chín tư thì ba bây mệt rồi. Người mệt thì dễ tin.

Tuyết ngồi ở Mỹ Xuyên tới chiều. Lúc về, chú Ngạn tiễn ra tận đầu ngõ. Chú dúi vào tay chị một con dế bằng gỗ nhỏ xíu, đục từ một mẩu kiền kiền, bóng loáng vì tay người sờ nhiều năm.

– Cái ni ba bây đục hồi mười lăm tuổi. – Chú nói. – Cho tau. Giờ tau cho bây.

Trên đường về Huế, Tuyết dừng xe giữa đồng, ngồi trên bờ ruộng rất lâu, nắm con dế gỗ trong lòng bàn tay. Chị quyết định rồi. Chị sẽ đi Sa Huỳnh. Chị sẽ gặp anh Giáp, nhìn tận mặt cái ghe, cái mũi ghe ba đục, con dế ba khắc. Chị sẽ hỏi cho ra.

Chiều hôm sau, chị đang ngồi ở hiên nhà rường, xem lịch tàu trong tờ báo cũ, tính đường đi Quảng Ngãi, thì nghe ngoài ngõ có tiếng ồn ào lạ. Tiếng con nít reo. Tiếng o Lành hét. Và một tiếng hắt xì rất quen.

Chị chạy ra cổng.

Khỏe đang đạp một chiếc xe ba gác thuê, lốp xẹp một bên, lắc lư đi vào con kiệt nhỏ. Trên thùng xe, chằng bằng mấy sợi dây thừng, là một cái máy may. Máy may công nghiệp, mới tinh, còn nguyên lớp giấy bọc. Khỏe đạp, mồ hôi chảy ròng ròng, mặt đỏ gay vì nắng, mũi đỏ chót vì dị ứng, áo ướt sũng dán vào lưng. Phía sau xe, một đám con nít trong kiệt chạy theo reo hò. O Lành đứng giữa ngõ, tay cầm cái vá múc bún, há hốc miệng.

Khỏe đạp tới trước cổng tre thì phanh lại, thở hồng hộc.

– Bà xã. – Anh nói, giọng khàn đặc. – Tui đạp từ ga về.

– Ông điên à! Từ ga về đây năm cây số!

– Năm cây rưỡi. – Khỏe nói. – Tui hỏi đường ba lần.

Anh nhảy xuống xe, cởi dây thừng, rồi chỉ vào cái máy may.

– Cái này tui mua cho chị Hai. Tui nghe bà xã nói hồi lụt máy của chị Hai bị nước ngâm, chị Hai mua lại cái máy cũ, chạy hay kẹt chỉ. Tui bán chiếc ba gác của tui, cộng với tiền tui để dành, mua cái này. Tui gửi theo tàu hàng ra trước, rồi tui ra sau. – Anh ngừng lại, hắt xì một cái. – Tiền của bà xã tui làm mất, tui không trả được liền. Nhưng tui không muốn bà xã nghĩ tui chỉ biết làm mất. Tui còn biết mua máy may.

Tuyết đứng ở cổng tre, nhìn chồng, nhìn cái máy may, nhìn đám con nít đang há mồm nhìn hai vợ chồng. Châm đã ra đứng sau lưng chị, tay che miệng. Mạ ra sau Châm.

Tuyết muốn chửi. Chị muốn hét lên rằng bán chiếc ba gác thì ông lấy gì chạy hàng, lấy gì kiếm tiền, sao ông không bao giờ chịu nghĩ trước khi làm. Nhưng chị nhìn cái lưng áo ướt sũng của anh, nhìn bàn tay anh đỏ rát vì nắm ghi đông xe năm cây rưỡi, và chị không chửi được.

– Đồ quỷ. – Chị nói. Rồi chị bật khóc, lần thứ hai trong tuần.

Mạ bước ra, đi ngang qua Tuyết, tới trước Khỏe. Mạ nhìn anh từ đầu tới chân, cái nhìn cân đong mà năm năm trước ở ga Sài Gòn anh đã từng chịu.

– Vô nhà. – Mạ nói. – Rửa mặt. Ăn cơm.

Đêm đó, sau khi Khỏe đã ngủ say trên bộ ván gian bên, ngáy khò khò, Tuyết ngồi một mình ở hiên. Chị lấy con dế gỗ của chú Ngạn ra, xoay xoay trong tay. Chuyến đi Sa Huỳnh phải hoãn lại. Xưởng còn đó, nợ còn đó, Bắp còn đó, và một người chồng không có xe ba gác.

Chị nghĩ chỉ hoãn vài tháng.

Chị không biết rằng phải sáu năm sau, chị mới đặt chân tới Sa Huỳnh.

— Hết chương 13 —

Mục lục Bốn chị em nhà rường Bao Vinh

  1. 1Hai người lạ ở đám tang ba12 phút đọc
  2. 2Năm ni chưa có10 phút đọc
  3. 3Chuyến tàu ngày mười bốn tháng Hai10 phút đọc
  4. 4Lá thư gửi mạ từ Sa Huỳnh10 phút đọc
  5. 5Tấm áo dài may dở11 phút đọc
  6. 6Hội thi áo dài của phường11 phút đọc
  7. 7Đám cưới trong hẻm Sài Gòn11 phút đọc
  8. 8Người khách tháng Chín10 phút đọc
  9. 9Đêm nước lên tới xà ngang11 phút đọc
  10. 10Xưởng bốn máy gần chợ Bình Tây11 phút đọc
  11. 11Rước dâu bằng ghe ở Năm Căn11 phút đọc
  12. 12Bà Hoành khóc ở chái đông11 phút đọc
  13. 13Con dế gỗ ở Mỹ Xuyên12 phút đọc
  14. 14Hai cây vàng trên mâm trà10 phút đọc
  15. 15Cuộc cãi nhau dưới bốn cột cái10 phút đọc
  16. 16Con dế trên đà mũi ghe12 phút đọc
  17. 17Tết có thêm một người10 phút đọc
  18. 18Không cùng huyết thống10 phút đọc

Về truyện này

Bốn chị em nhà rường Bao Vinh là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Khánh của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →