AI Truyện

💞 Ngôn tình

Bốn giờ sáng có người chở da trâu tới

Vết sẹo lưỡi liềm trên mặt trống · Chương 1/11 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc🎧 8 phút · giọng Bảo Trang

Đọc

Khoảnh khắc chính

  1. 0:07Người ta gõ cổng nhà tôi lúc bốn giờ…
  2. 1:34Tôi biết. Nhà tôi có một tấm ảnh đen…
  3. 3:11Trâu... hai mươi bảy tuổi. – Ông nói, từng…
  4. 4:18Tôi đứng dậy, phủi tay vào quần.
  5. 5:23Thế là chúng tôi thỏa thuận ngay giữa sân,…
  6. 6:31Bảy giờ sáng, tôi đang lấy dao cạo thử…
  7. 7:36Anh yên tâm. Đã vào sân nhà tôi thì…
  8. 8:26Khi mở mắt ra, ông nói một câu. Tôi…

Chương 1: Bốn giờ sáng có người chở da trâu tới

Người ta gõ cổng nhà tôi lúc bốn giờ sáng. Trên thùng chiếc xe bán tải là một tấm da trâu cuộn tròn to bằng cái chum, và câu đầu tiên anh ta nói, khi tôi còn đang cài khuy áo khoác, là:

– Tôi cần gặp cụ Sửu. Không phải cô.

Tôi đứng sau cánh cổng sắt, đèn pin trong tay, soi từ đôi giày da lấm bùn lên tới cái mặt râu ria lởm chởm của anh ta. Ba mươi mấy tuổi. Áo phao đen. Mắt đỏ kè như người lái xe cả đêm.

– Cụ Sửu là bố tôi. – Tôi nói. – Bố tôi nằm liệt tám tháng nay rồi. Anh muốn gặp thì vào, nhưng bố tôi không bịt được trống nữa đâu.

Anh ta khựng lại. Tôi thấy rõ anh ta không biết chuyện đó. Rồi anh ta quay ra nhìn cái thùng xe, nhìn tấm da cuộn tròn, mặt như người vừa bị ai giật mất cái ví.

– Thế ai bịt?

– Tôi.

Làng Đọi Tam có hơn trăm hộ làm trống. Ai cũng biết nhà ông Sửu chỉ có một đứa con gái, và đứa con gái ấy cầm búa đóng đinh tre từ năm mười bốn tuổi. Người làng gọi tôi là "con Luyện trống", nửa khen nửa đùa. Đàn ông trong làng mua da về thì đưa tôi bịt trống con, trống trường, trống múa lân. Trống đại thì không. Trống đại người ta tìm bố tôi. Từ ngày bố tôi nằm, người ta đi tìm nhà khác.

Người đàn ông nhìn tôi lâu như đang đo một tấm ván xem có đủ dài không. Rồi anh ta thở ra một hơi.

– Tôi là Phiên. Hà Đức Phiên. – Anh nói. – Ông nội tôi là Hà Văn Nhượng, ở làng Xuân Đồi, Phú Thọ. Ông bảo bốn mươi năm trước, cụ Sửu lên tận làng tôi bịt cái trống cái cho đình. Cô có biết chuyện ấy không?

Tôi biết. Nhà tôi có một tấm ảnh đen trắng treo ở gian giữa, bố tôi hồi hai mươi tư tuổi đứng cạnh một cái trống to hơn người, sau lưng là mái đình cong vút. Bố tôi kể chuyện cái trống ấy cả trăm lần. Trống đình Xuân Đồi, đường kính một mét sáu, da trâu đực nguyên tấm, bố tôi ở lại làng người ta hai tháng để bịt.

– Trống ấy làm sao? – Tôi hỏi.

– Mất rồi. Trận lũ hai năm trước, nước vào tận đình, cuốn đi. – Phiên nói. – Ông tôi tám mươi sáu tuổi, ung thư, bác sĩ bảo không qua được mùa hè. Con trâu nhà tôi chết tuần trước. Con trâu ông nuôi hai mươi bảy năm. Ông muốn lấy da nó bịt lại cái trống đình, để hội làng mùng mười tháng Giêng năm nay có trống mà đánh.

Anh nói một mạch, giọng đều như đọc báo cáo, nhưng tới chữ "con trâu" thì vấp một cái rất nhỏ.

Tôi mở cổng.

Bố tôi nằm ở gian bên, cái giường kê sát cửa sổ để ông nhìn ra sân. Từ hồi bị tai biến, nửa người trái ông yếu hẳn, nói ngọng, mỗi câu phải dừng lại ba lần. Nhưng tai ông thì vẫn như xưa. Ai đi ngoài ngõ, ông nghe tiếng dép là biết ai. Trống nhà nào trong làng đánh thử, ông nghe một tiếng là biết da gì, căng đã đủ chưa. Cả đời ông chỉ có một câu dạy nghề mà ông nhắc đi nhắc lại: trống tốt là trống đánh khẽ một tiếng, ngồi trong nhà ở cuối làng cũng nghe thấy.

Phiên ngồi xuống cái ghế nhựa cạnh giường, kể lại cho bố tôi nghe, chậm hơn, to hơn. Bố tôi nằm nghe, mắt mở trừng trừng. Nghe tới tên ông Nhượng, ông đưa tay phải lên, nắm lấy cổ tay Phiên.

– Nhượng... – Bố tôi nói. – Còn... sống à?

– Dạ, còn ạ. Ông cháu vẫn nhắc cụ.

Bố tôi cười, cái cười méo một bên. Rồi ông nghe tới chuyện con trâu, cái cười tắt dần.

– Trâu... hai mươi bảy tuổi. – Ông nói, từng chữ một. – Già. Da... mỏng.

– Da dày lắm cụ ạ. – Phiên nói nhanh. – Cháu mang theo đây.

Bố tôi lắc đầu, cái lắc đầu chậm chạp. Ông quay sang nhìn tôi, rồi nhìn Phiên, rồi nhắm mắt lại, ra hiệu mệt.

Tôi dẫn Phiên ra sân. Trời vẫn tối, gà nhà hàng xóm gáy lần thứ hai. Tôi bảo anh hạ tấm da xuống. Anh với tôi mỗi người một đầu, khiêng tấm da cuộn từ thùng xe xuống cái bạt trải giữa sân. Nặng. Phải gần sáu chục cân. Tấm da đã được ướp muối, mùi hăng hắc, ngai ngái, bám vào tay áo không chịu đi.

Tôi cắt sợi dây buộc, trải tấm da ra.

To thật. Dài gần bốn mét, rộng hơn hai mét. Da màu xám đen, lông còn nguyên, dày cộp. Tôi lấy ngón tay ấn vào mép da, lật lên xem mặt trong. Thớ da chắc, đều, ít vết rách, mấy chỗ sẹo nhỏ của ách cày ở vai. Tôi gật gù. Da tốt. Tốt hơn tôi tưởng nhiều.

– Dày như da trâu mười tuổi. – Tôi nói, không để ý mình nói ra thành tiếng.

Phiên đứng cạnh, im lặng. Tôi ngẩng lên, thấy anh đang nhìn tấm da chứ không nhìn tôi, hàm nghiến chặt.

– Anh sao thế?

– Không sao. – Anh nói. – Cô làm được không?

Tôi đứng dậy, phủi tay vào quần.

– Một cái trống cái một mét sáu, da phải ngâm, cạo, lạng, phơi cho khô, rồi mới bịt. Tang trống phải đóng mới bằng gỗ mít, ghép từng dăm. Mùa này mưa phùn, da khô chậm. Từ giờ tới mùng mười tháng Giêng là gần hai tháng. – Tôi tính trên đầu ngón tay. – Sít sao. Nhưng làm được.

– Cô làm một mình?

– Tôi làm với bố tôi. Bố tôi nằm đấy, nhưng tai bố tôi chưa nằm.

Phiên nhìn tôi, rồi nhìn vào trong nhà, nơi cái giường kê cạnh cửa sổ. Tôi biết anh đang nghĩ gì. Anh đang nghĩ: một ông già liệt nửa người và một đứa con gái. Anh đang nghĩ có nên cuộn tấm da lại, chở sang nhà khác trong làng, nhà có đàn ông.

– Trong làng còn ba nhà bịt được trống đại. – Tôi nói trước. – Tôi chỉ đường cho anh. Nhà ông Tề đầu làng làm to nhất, máy móc đủ cả. Anh muốn sang đó thì sang. Tôi không giận.

Phiên im một lúc lâu.

– Ông tôi dặn phải là nhà cụ Sửu. – Anh nói. – Ông bảo cả đời ông chỉ nghe một cái trống ưng tai, là cái trống cụ Sửu bịt.

– Thế thì anh không có lựa chọn rồi.

– Tôi có. – Anh nói, rồi thở ra. – Nhưng tôi không muốn về nói với ông là tôi chọn nhà khác.

Thế là chúng tôi thỏa thuận ngay giữa sân, lúc trời bắt đầu hửng. Tiền công tính theo giá trống đại, đặt trước một nửa. Tang trống tôi đặt Trọng, thợ đóng tang giỏi nhất làng bên. Phiên đi làm ở Hà Nội, kỹ sư cầu đường, mỗi tuần về được hai ngày cuối tuần. Ông nội muốn anh chụp ảnh, quay phim từng bước gửi về cho ông xem.

– Ông tôi không đi được nữa. – Anh nói. – Mỗi tối tôi gọi video, ông bắt tôi kể hôm nay cái da nó thế nào.

– Thế thì tối nay anh kể là nó đang nằm giữa sân nhà con Luyện trống, bốc mùi muối. – Tôi nói.

Lần đầu tiên từ lúc gõ cổng, Phiên cười. Cái cười rất ngắn, như bị ai bắt quả tang.

U tôi dậy nấu cơm, thấy cái xe lạ đỗ ngoài ngõ, thấy một người đàn ông lạ đứng giữa sân với con gái mình. U đứng ở cửa bếp, tay cầm cái muôi, nhìn từ đầu đến chân anh ta. Lúc Phiên quay ra chào, u tôi gật đầu một cái, rồi gọi tôi vào bếp, hạ giọng.

– Khách ở đâu?

– Phú Thọ, u ạ. Đặt trống đình.

– Có vợ chưa?

– U!

– U hỏi thế thôi. – U tôi múc nồi cơm, mặt tỉnh bơ. – Thằng Trọng nó mà biết có đàn ông lạ đến từ bốn giờ sáng, nó lại sang ngồi uống nước chè cả buổi.

Bảy giờ sáng, tôi đang lấy dao cạo thử một góc lông thì ông Tề đi xe máy qua cổng. Ông là họ xa của bố tôi, ngoài năm mươi tuổi, chủ cái xưởng trống to nhất làng, mỗi tháng xuất cả nghìn cái trống trường học, trống sự kiện đi khắp nơi. Nhà ông có máy lạng da, có lò sấy, có hai chục thợ. Ông thấy tấm da trải giữa sân thì phanh kít lại, dựng xe, đi vào.

– Da đâu mà đẹp thế này? – Ông cúi xuống, lấy ngón tay miết lên mép da, gõ gõ.

– Của khách, chú ạ. Bịt trống đình.

– Ở đâu?

– Phú Thọ.

Ông Tề ngẩng lên, nhìn Phiên đang đứng bên xe, rồi nhìn lại tấm da.

– Da Phú Thọ à. – Ông nói. – Tháng trước chú cũng mua được một tấm to cỡ này trên ấy, qua thằng Khoái lái da. Trâu già mà to như trâu đực, da mỏng hơn da này. Chú đang để trong kho. – Ông đứng dậy, phủi tay. – Cái này mà bán thì chú trả hai mươi triệu, Luyện ạ. Bảo khách thế.

– Khách không bán đâu chú.

– Thì cứ bảo. – Ông Tề cười, lên xe đi.

Tôi quay lại, thấy Phiên đang nhìn theo xe ông Tề, mặt tái đi một chút. Tôi tưởng anh sợ người ta tranh mua mất da, nên tôi bảo:

– Anh yên tâm. Đã vào sân nhà tôi thì không ai mua được.

Anh gật đầu, không nói gì, lên xe về Hà Nội.

Tối hôm ấy, tôi đang ngâm tấm da trong cái bể xi măng sau nhà thì nghe tiếng gõ cộc cộc. Bố tôi gõ cái cốc nhựa vào thành giường. Đấy là cách ông gọi tôi từ khi ông không gọi to được nữa.

Tôi chạy vào. Bố tôi nằm nghiêng, tay phải chỉ ra phía sau nhà, nơi cái bể ngâm.

– Con... mang... vào đây.

– Mang cái gì hả bố?

– Da.

– Bố, tấm da sáu chục cân, đang ngâm nước.

Bố tôi nhìn tôi chằm chằm. Ông mà nhìn thế thì có cãi cũng vô ích. Tôi ra bể, cắt một mẩu ở rìa tấm da, chỗ thừa, to bằng bàn tay, mang vào đặt vào lòng bàn tay phải của ông.

Bố tôi nắm mẩu da. Bóp. Miết ngón cái lên mặt da. Đưa lên mũi ngửi. Gõ móng tay vào. Rồi ông nhắm mắt lại rất lâu, lâu tới mức tôi tưởng ông ngủ.

Khi mở mắt ra, ông nói một câu. Tôi phải cúi sát xuống mới nghe được, vì ông nói nhỏ, và vì cái miệng méo của ông nuốt mất nửa chữ. Tôi nghe được ba chữ cuối.

– ...không phải nó.

– Không phải cái gì hả bố?

Bố tôi không trả lời. Ông đặt mẩu da xuống mép giường, quay mặt vào tường. Tôi đứng đó, cầm mẩu da ướt lạnh trong tay, nghe tiếng mưa phùn bắt đầu lắc rắc trên mái ngói.

— Hết chương 1 —

Mục lục Vết sẹo lưỡi liềm trên mặt trống

  1. 1Bốn giờ sáng có người chở da trâu tới8 phút
  2. 2Giàn phơi9 phút đọc
  3. 3Ba đêm canh da9 phút đọc
  4. 4Tang trống gỗ mít9 phút đọc
  5. 5Ông cụ đi tìm vết sẹo10 phút đọc
  6. 6Ai nói với ông9 phút đọc
  7. 7Đường đi của một tấm da9 phút đọc
  8. 8Nửa tấm da còn lại9 phút đọc
  9. 9Mặt đực, mặt cái10 phút đọc
  10. 10Mùng chín tháng Giêng9 phút đọc
  11. 11Đánh khẽ10 phút đọc

Về truyện này

Vết sẹo lưỡi liềm trên mặt trống là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Trang của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →