AI Truyện
Vết sẹo lưỡi liềm trên mặt trống

💞 Ngôn tình

Mùng chín tháng Giêng

Vết sẹo lưỡi liềm trên mặt trống · Chương 10/11 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 10: Mùng chín tháng Giêng

Tết năm ấy tôi ăn Tết cạnh cái trống.

Bố tôi bảo trống bịt xong phải để nó nghỉ ít nhất mười ngày. Da mới căng còn sống, nó co, nó giãn theo trời, theo hơi người, như người mới về nhà chồng phải có thời gian quen hơi. Cái trống đứng giữa gian kho nhà tôi, phủ một tấm chăn bông. Sáng nào tôi cũng vào gõ một tiếng lên mỗi mặt, nghe, rồi ra báo cho bố. Bố tôi nằm nghe, gật, hoặc lắc.

Phiên ăn Tết ở bệnh viện Việt Trì. Ông Nhượng không về được. Tối ba mươi, anh gọi video, quay cho tôi xem cái hành lang bệnh viện có treo mấy dây đèn nháy, cái giường bệnh có bình ô xy cắm bên cạnh. Ông cụ nằm đội mũ len, mặt hốc hơn lần trước, nhưng vẫn giơ tay vẫy vẫy vào màn hình.

– Trống xong chưa? – Ông hỏi. Câu duy nhất ông nói được trong buổi tối ấy mà không phải ngừng lại thở.

– Xong rồi ông ạ. Mùng tám cháu mang lên.

– Mùng mười. – Ông nói. – Tôi về đình.

Bác sĩ không cho. Phiên kể với tôi sau đó. Bác sĩ bảo ông đi là có thể không về. Ông Nhượng bảo: thế thì càng phải đi.

Mùng tám tháng Giêng, chúng tôi chở trống lên Phú Thọ. Cái xe tải nhỏ mượn của nhà ông Tề, ông Tề không lấy tiền, chỉ dặn "chạy chậm thôi". Trống buộc chặt giữa thùng xe, chèn rơm, phủ chăn. Tôi ngồi ở thùng xe với cái trống suốt hơn trăm cây số, tay đặt lên mặt Mốc, như người ta đặt tay lên trán đứa trẻ ốm. Phiên lái bán tải chạy sau. Trọng ngồi ghế phụ xe tải, ôm túi đồ nghề của tôi.

Đình làng Xuân Đồi nằm trên một gò đất cao nhìn ra sông Thao, mái cong, cột lim, cái sân gạch rộng trước cửa đình còn hằn vệt bùn của trận lũ hai năm trước. Người làng ra đón đông như hội. Mấy ông già trong ban khánh tiết đứng ở bậc tam cấp, nhìn cái trống, rồi nhìn tôi, rồi nhìn nhau. Tôi biết cái nhìn ấy. Tôi đã thấy nó năm mười bốn tuổi.

Phiên bước tới, đứng cạnh tôi. Anh không nói gì. Anh chỉ đứng đấy, đúng cái chỗ mà nếu ai muốn kéo tôi ra thì phải đi qua anh.

Chúng tôi đặt trống lên cái giá gỗ mới trong gian bên của đình. Tối mùng tám, tôi gõ thử. Mặt đực: tùng, đanh, vang. Mặt Mốc: thùng, trầm, ấm. Hai mặt trả lời nhau. Tôi thở ra.

Tối mùng chín, trời đổi.

Cả ngày hôm ấy nồm. Thứ nồm tháng Giêng của miền Bắc, nền gạch đình đổ mồ hôi, cột lim rịn nước, không khí ẩm như vắt ra được. Rồi đến chín giờ tối, gió mùa về. Gió bấc lạnh buốt quét qua sông, qua gò, lùa vào đình, thổi tắt cả mấy ngọn nến trên ban thờ. Nhiệt độ tụt nhanh như ai rút nút.

Tôi đang ngồi ở hiên đình với Phiên và Trọng thì nghe một tiếng "tách" rất nhỏ từ trong gian bên.

Tôi chạy vào. Rọi đèn pin lên mặt Mốc.

Ở mép vết sẹo lưỡi liềm, nơi có những cái chấm nhỏ, có một đường nứt chân chim mảnh như sợi tóc, dài chừng một đốt ngón tay. Nó chạy từ cái chấm thứ ba bên phải, xiên ra phía ngoài.

Tôi đứng đó, đèn pin run trong tay. Da mỏng, cả ngày ngậm hơi nồm, giãn ra, rồi gặp lạnh đột ngột, co lại. Chỗ yếu nhất là những cái lỗ kim mười bảy mũi khâu năm nào. Chỗ mà con Mốc đã lành, giờ lại rách.

Bố tôi đã nói từ ngày đầu. Trâu già, da mỏng.

– Luyện. – Phiên đứng sau lưng tôi. – Có sao không?

– Nứt. – Tôi nói. – Mai mà đánh mạnh vào mặt này, nó toạc ra.

Trọng ghé đèn vào xem, im lặng, rồi lắc đầu.

– Thay mặt không kịp. – Nó nói. – Mà lấy đâu ra da Mốc mà thay.

Tôi ngồi xuống cái chiếu trong gian đình, nhìn đường nứt. Tôi gọi điện cho bố. U tôi cầm máy, đặt cạnh tai bố. Tôi kể. Đầu dây bên kia im rất lâu, chỉ có tiếng bố tôi thở. Rồi tôi nghe ông nói, từng chữ một:

– Keo.

– Keo gì hả bố?

– Keo... da. Nấu... keo da. Dán... trong lòng. – Ông thở. – Da thừa... con giữ... không?

Tôi giữ. Những mẩu da Mốc thừa sau khi cắt mặt trống, tôi không nỡ vứt, cuộn lại bỏ trong túi đồ nghề. Trọng đã ôm cái túi ấy suốt từ Đọi Tam lên đây.

Đêm ấy, ngoài sân đình Xuân Đồi, chúng tôi nhóm một bếp củi. Phiên đi vay của nhà trưởng thôn một cái nồi gang. Tôi chừa ra một miếng to bằng bàn tay để vá, một mẩu nữa không nỡ cắt, cất riêng. Còn lại tôi cắt nhỏ, ngâm nước, rồi cho vào nồi nấu. Lửa phải riu riu, không được để sôi bùng. Nấu từ mười giờ đêm, đến hai giờ sáng nước trong nồi mới sánh lại, vàng như mật ong, dính như nhựa mít. Keo da. Thứ keo ông nội tôi, bố tôi vẫn nấu để dán những chỗ da hở, những vết nứt nhỏ trên trống cổ.

Phiên ngồi canh lửa với tôi suốt đêm. Trọng nằm co trên chiếu trong đình, ngủ được hai tiếng thì dậy phụ.

Gần ba giờ, lửa đỏ hồng dưới đáy nồi, Phiên khều một que củi, nói mà không nhìn tôi:

– Hôm ở cổng xưởng ông Tề, cô bảo cô không nói, vì cô đã nói là không nói. Tôi nghĩ mãi câu ấy.

– Thì sao?

– Người ta chỉ nói câu ấy khi có một điều khác mà người ta không được nói. – Anh bẻ que củi làm đôi, bỏ vào bếp. – Có phải không?

Tôi nhìn ngọn lửa. Keo trong nồi sủi lên những cái bọt nhỏ, lăn tăn, chậm chạp.

– Có. – Tôi nói.

Phiên gật đầu. Anh không hỏi tiếp. Anh ngồi im một lúc rất lâu, rồi đưa tay sang nắm lấy bàn tay tôi đặt trên đầu gối, bàn tay còn dính keo, còn ám khói.

– Thế thì tôi không hỏi. – Anh nói. – Tôi đợi.

Tôi không biết vì sao câu ấy làm tôi muốn khóc hơn mọi lời xin lỗi. Có lẽ vì cả đời tôi, đàn ông quanh tôi hoặc là không hỏi vì không quan tâm, hoặc là hỏi cho bằng được. Chưa ai hỏi rồi đợi.

Bốn giờ sáng, chúng tôi lật cái trống. Trọng tháo một nửa hàng đinh ở mặt đực, nới da ra một góc đủ cho tôi luồn tay vào lòng tang. Trong lòng trống tối om, mùi gỗ mít, mùi sơn ta. Tôi rọi đèn đội đầu, tìm mặt trong của đường nứt. Tôi dán lên đó một miếng da Mốc mỏng tang, to bằng bàn tay, quét keo da còn ấm, miết từ giữa ra mép, miết đến khi miếng da dính chặt như mọc ra từ chính mặt trống.

Da Mốc vá cho da Mốc.

Tay tôi chạm vào thanh dăm thứ nhất. Trên đó, khắc rất nhỏ, dòng chữ của Trọng: "Đinh Thị Luyện bịt. Vũ Đình Trọng đóng. Tháng Chạp."

Đóng lại đinh mặt đực xong thì trời sáng. Phiên đốt hai bếp than, đặt cách trống hai mét, hong cho keo khô. Tôi gõ thử mặt Mốc một tiếng, nhẹ như gõ cửa.

Thùng.

Vẫn trầm. Vẫn ấm. Có hơi ngắn hơn một chút, như người nói xong một câu thì ngừng lại thở. Nhưng nó vẫn nói.

– Mặt này không đánh mạnh được nữa. – Tôi nói với Phiên. – Hội làng đánh mặt đực. Mặt Mốc chỉ để... trả lời.

Mười giờ sáng mùng mười, chiếc xe cứu thương thuê từ Việt Trì đỗ trước cổng đình. Ông Hòe với Phiên bế ông Nhượng xuống xe lăn. Một bình ô xy đặt trên đùi ông, ống thở luồn qua mũi. Ông gầy đến mức cái áo bông như treo trên mắc. Nhưng ông ngồi thẳng, mắt sáng.

Người làng dạt ra hai bên. Xe lăn đi qua sân gạch, lên cái dốc gỗ mới đóng, vào gian bên. Ông Nhượng nhìn cái trống rất lâu.

– Thợ bịt đâu? – Ông hỏi.

Tôi bước lên.

– Đứng đây. – Ông chỉ vào chỗ cạnh trống, sát bên mặt Mốc. – Thợ bịt đứng cạnh trống. Làng này xưa nay thế.

Một ông trong ban khánh tiết định nói gì đó. Ông Nhượng quay lại nhìn. Ông kia im.

Tôi đứng cạnh trống. Phiên đứng sau lưng ông nội.

Ông Nhượng đưa tay ra. Không cầm dùi. Ông đặt bàn tay gầy guộc lên mặt Mốc, miết từ mép tang vào, chậm, như người mù đọc chữ. Tay ông chạm vào vết sẹo lưỡi liềm. Dừng lại. Ngón tay ông lần theo hàng chấm bên trái. Một, hai, ba... Rồi bên phải.

Cả gian đình im phăng phắc. Tôi nghe tiếng bình ô xy xì xì.

Ông Nhượng ngẩng lên. Ông không nhìn tôi. Ông nhìn ông Hòe, rồi nhìn Phiên.

– Mốc. – Ông nói. Lần này giọng ông không sang sảng như hôm ở sân nhà tôi. Lần này nó run. – Mốc thật rồi.

Ông Hòe khuỵu xuống cạnh xe lăn. Ông ôm lấy đầu gối bố mình, vai rung lên.

– Con xin lỗi bố. Con bán nó. Con...

– Tao biết. – Ông Nhượng đặt tay kia lên đầu con trai, xoa xoa như xoa đầu đứa trẻ. – Tao biết từ lâu rồi. Tao chờ mày nói.

Phiên đứng sững. Anh quay sang nhìn tôi. Tôi thấy trong mắt anh mọi thứ ghép lại với nhau như những thanh dăm: câu hỏi của ông, năm phút ngồi riêng ở hiên nhà tôi, cái tin nhắn một dòng, cái việc tôi không cãi một câu nào.

Rồi ông Nhượng cầm dùi. Phiên đỡ khuỷu tay ông. Ông không đánh mặt đực. Ông gõ lên mặt Mốc, một tiếng, khẽ, khẽ như người gõ cửa nhà mình.

Thùng.

Tiếng trống trầm, ấm, chạy xuống lòng tang, chạm vào mặt đực, và mặt đực ngân lên trả lời. Tiếng ngân ấy ra khỏi gian đình, xuống sân, xuống dốc, lan ra tận bờ sông.

Ông Nhượng nhắm mắt, nghe cho đến khi tiếng ngân tắt hẳn. Rồi ông trao dùi cho ông thủ từ, gật đầu. Ông thủ từ quay sang mặt đực, đánh ba hồi chín tiếng mở hội. Tùng, tùng, tùng. Cả làng Xuân Đồi reo lên.

Giữa tiếng trống, ông Nhượng vẫy tay gọi tôi. Tôi cúi xuống sát cái mũ len của ông. Ông nói nhỏ, đủ cho mình tôi nghe:

– Cô thôi hứa được rồi. – Ông nói. – Còn một chuyện nữa. Thằng Phiên ấy...

— Hết chương 10 —

Mục lục Vết sẹo lưỡi liềm trên mặt trống

  1. 1Bốn giờ sáng có người chở da trâu tới8 phút
  2. 2Giàn phơi9 phút đọc
  3. 3Ba đêm canh da9 phút đọc
  4. 4Tang trống gỗ mít9 phút đọc
  5. 5Ông cụ đi tìm vết sẹo10 phút đọc
  6. 6Ai nói với ông9 phút đọc
  7. 7Đường đi của một tấm da9 phút đọc
  8. 8Nửa tấm da còn lại9 phút đọc
  9. 9Mặt đực, mặt cái10 phút đọc
  10. 10Mùng chín tháng Giêng9 phút đọc
  11. 11Đánh khẽ10 phút đọc

Về truyện này

Vết sẹo lưỡi liềm trên mặt trống là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Trang của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →