AI Truyện
Vết sẹo lưỡi liềm trên mặt trống

💞 Ngôn tình

Đánh khẽ

Vết sẹo lưỡi liềm trên mặt trống · Chương 11/11 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 11: Đánh khẽ

– Thằng Phiên ấy, – ông Nhượng nói, giữa tiếng trống mở hội, giọng thều thào mà từng chữ rơi vào tai tôi rõ như đinh đóng, – nó không biết bịt trống. Nó gõ da còn chả phân biệt được bộp với bịch, nó kể với tôi rồi. Nhưng nó biết đứng chắn. Từ bé nó đã thế, đứng chắn cho bố nó, đứng chắn cho tôi, dại dột nhưng mà đứng. Cô giữ lấy nó.

Tôi đứng thẳng lên, mặt nóng ran giữa trời tháng Giêng. Ông Nhượng nhìn tôi, nháy một bên mắt, cái nháy mắt của một ông già từng đi chăn trâu, từng trêu con gái cả làng.

Rồi ông nhắm mắt lại, ngồi nghe trống.

Ông Nhượng mất ngày hai mươi ba tháng Giêng, ở nhà, trên cái giường tre kê cạnh cửa sổ nhìn ra cái chuồng trâu bỏ trống. Ông Hòe đưa ông về từ viện sau hội làng, ông bảo muốn nằm ở nhà. Phiên kể ông đi lúc gần sáng, êm, không kêu đau. Tối hôm trước ông còn bắt Phiên mở lại đoạn phim quay cái trống đình, xem đi xem lại chỗ ông gõ lên mặt Mốc.

Làng Xuân Đồi đánh trống đình báo tin. Người ta đánh mặt đực. Mặt Mốc từ hôm hội không ai đánh nữa, ông thủ từ bảo để dành, để nó nghỉ.

Tôi lên đưa tang ông. Đứng ở cuối đám đông, trong cái áo khoác đen mượn của u. Đến lúc hạ huyệt, ông Hòe đi tìm tôi, đưa cho tôi một gói giấy báo nhỏ.

– Bố tôi dặn đưa cho cô. – Ông nói.

Trong gói giấy báo là một cái kim khâu bao tải, to bằng que đan, đen bóng vì tay người cầm nhiều năm, đầu kim mòn tù. Một sợi chỉ gai cũ cuộn quanh thân kim. Tôi cầm nó lên, biết ngay nó là cái gì.

– Bố tôi bảo, – ông Hòe nói, – cái kim này khâu cho con Mốc một lần. Giờ để cô khâu trống.

Tôi không khâu trống bằng kim bao giờ. Không thợ trống nào khâu trống bằng kim. Nhưng tôi gói cái kim lại trong giấy báo, cất vào túi áo ngực, chỗ gần tim nhất.

Đưa tang xong, Phiên đưa tôi ra bến xe khách ở đầu xã. Anh đi bộ cạnh tôi, mặc cái áo tang trắng, đầu quấn khăn, mắt sưng húp. Tới gốc cây gạo đầu bến, anh dừng lại.

– Ông bảo cô thôi hứa rồi, phải không? – Anh hỏi. – Hôm hội làng, tôi thấy ông gọi cô lại.

– Ừ.

– Thế thì cô kể đi. Tôi đợi đủ rồi.

Tôi kể. Kể chuyện ông bò trên tấm da trâu đực ở sân nhà tôi, ngón tay tìm mười bảy cái chấm không có. Kể chuyện ông ngồi dưới hiên, chờ tiếng xe nổ máy ngoài ngõ mới gọi tôi cúi xuống. Kể chuyện ông biết từ cái hôm không ai chở ông về nhìn mặt con trâu lần cuối. Kể câu ông nói: để chúng nó tưởng chúng nó giấu được tôi.

Phiên nghe đến đấy thì quay mặt đi, nhìn ra cánh đồng. Một lúc lâu sau anh mới nói, giọng nghẹn:

– Ông lừa cả nhà. Ông lừa giỏi hơn cả nhà.

– Ông thương cả nhà. – Tôi nói. – Giỏi hơn cả nhà.

Xe khách đến. Tôi lên xe. Qua cửa kính, tôi thấy anh đứng dưới gốc gạo, khăn tang trắng bay trong gió, một tay giơ lên, không vẫy, chỉ giơ lên như thế, rất lâu.

Về nhà, tôi đưa cái kim khâu bao tải cho bố xem. Bố tôi cầm cái kim trong tay phải, lật đi lật lại, miết ngón cái lên đầu kim mòn tù. Rồi ông đặt nó lên ngực, chỗ ông từng đặt mẩu da Mốc mỏng tang hôm nào.

– Kim... tốt. – Bố tôi nói. – Khâu... được... nhiều thứ.

– Bố, thợ trống có ai khâu trống bằng kim đâu.

Bố tôi nhìn tôi, cái nhìn khác hẳn ngày xưa, không nghiêm, mà như đang cười ở đâu đó dưới đáy mắt.

– Thì... con... là người đầu tiên. – Ông nói. – Con... là người đầu tiên... nhiều thứ rồi.

Mùa xuân về Đọi Tam bằng những cơn mưa xuân bay bay và những đơn hàng trống hội.

Ông Tề đến nhà tôi một buổi sáng tháng Hai, ngồi uống nước chè với bố tôi gần một tiếng, rồi trước khi về mới quay sang tôi, nói như nói chuyện thời tiết:

– Có ông khách bên Hưng Yên đặt cái trống đại cho chùa. Chú bảo người ta sang nhà mày. Chú không bịt trống đại bằng tay được, mày thì được.

– Chú nhường mối cho cháu à?

– Không nhường. – Ông Tề nói, đội mũ lên. – Chú bán cho mày cái mối ấy. Giá là ba mươi cái trống trường năm sau.

Rồi ông đi, để lại bố tôi nằm cười khục khặc.

Trọng nhận một đơn đóng tang trống lớn cho một đoàn nghệ thuật ở Huế, đi vào trong ấy hai tháng. Trước khi đi, nó sang nhà tôi, mang theo nắm xôi gấc của u nó, đặt lên bàn như mọi lần.

– Mày đi thật à? – Tôi hỏi.

– Ừ. – Nó nói. – Người ta bảo trong ấy gỗ mít ít, toàn gỗ khác. Tao đi xem người ta ghép thế nào.

Rồi nó gãi đầu, nhìn ra sân, nói thêm:

– Thằng Phiên mà làm mày khóc, mày gọi tao. Từ Huế về Đọi Tam có mười tiếng xe khách.

Tôi đứng ở cổng nhìn nó đạp xe đi, cái lưng to bè, chiếc xe đạp cũ lọc cọc. Tôi không khóc. Nhưng tôi đứng đó lâu.

Phiên về mỗi cuối tuần. Có tuần dẫn Bống theo, có tuần đi một mình. Anh không đo gì nữa. Anh phụ tôi những việc không cần đo: khiêng tang, kéo dây, nhún da. Anh nhún giỏi rồi. Không lệch nhịp nữa.

Con Bống thì coi nhà tôi như nhà nó. Nó gọi bố tôi là "ông Sửu", gọi u tôi là "bà", gọi tôi là "cô Luyện trống" y như người làng. Nó có một cái búa nhỏ riêng, treo trên cái đinh cạnh cửa kho, ai đụng vào là nó giận. Mỗi lần về, việc đầu tiên nó làm là chạy vào gian bên, đứng cạnh giường bố tôi, gõ cái trống con dê của nó ba tiếng cho ông nghe. Bố tôi nằm nghe, rồi gõ cái cốc nhựa vào thành giường. Một tiếng là được. Hai tiếng là thôi. Con bé học cái luật ấy nhanh hơn bố nó nhiều.

Có lần nó gõ xong, bố tôi gõ hai tiếng. Bống đứng im, môi mếu. Rồi nó chạy ra sân, ngồi xuống cạnh tôi, kéo tay tôi.

– Cô ơi, sao ông bảo thôi?

– Vì cháu gõ mạnh quá. – Tôi nói. – Trống tốt là trống gõ khẽ mà người ở xa vẫn nghe.

Con bé nghĩ một lúc, chạy vào gõ lại. Khẽ. Bố tôi gõ một tiếng.

Một tối cuối tháng Hai, anh ngồi ở bậc thềm, chén nước chè trong tay, nói:

– Công ty tôi có dự án cái cầu qua sông Đáy, ở Ninh Bình. Hai năm. Họ hỏi ai muốn sang.

Tôi đặt chén nước của tôi xuống.

– Thì sao?

– Từ công trường ấy về Đọi Tam bốn mươi phút. Về Hà Nội đón con Bống mỗi cuối tuần thì một tiếng rưỡi. – Anh nói. – Tôi muốn sang. Nhưng tôi hỏi cô trước.

– Anh hỏi tôi làm gì? Việc của anh.

– Tôi đang tập có mặt. – Anh nói, nhìn chén nước. – Người có mặt thì phải hỏi trước khi đi đâu. Tôi học ở cô đấy. Bố cô gõ cốc một tiếng là được, hai tiếng là thôi. Tôi đang chờ cô gõ.

Tôi nhìn anh. Tôi nghĩ tới cái đêm ở sân đình Xuân Đồi, anh nắm tay tôi bên bếp lửa, bảo "tôi đợi". Tôi nghĩ tới người đàn ông bốn giờ sáng đứng ngoài cổng nhà tôi, bảo "tôi cần gặp cụ Sửu, không phải cô".

Tôi gõ ngón tay vào thành chén. Một tiếng.

Phiên cười, cái cười to, không phải cái cười bị bắt quả tang.

Anh sang công trường cầu sông Đáy tháng Ba.

Tháng Tư, một chiều cuối tuần, anh đến nhà tôi, mặc cái áo sơ mi trắng là phẳng, cái áo tôi chưa thấy anh mặc bao giờ. Anh không vào ngồi ở bậc thềm như mọi khi. Anh đi thẳng vào gian bên, đứng trước giường bố tôi, chắp tay.

Tôi đứng ở cửa bếp với u. U tôi nắm chặt tay tôi, móng tay bấm vào da.

Bố tôi nằm nghe Phiên nói. Tôi không nghe được anh nói gì, chỉ thấy anh nói chậm, dừng lại nhiều lần, như người đọc một bản thuyết minh mà mình sợ đọc sai một chữ. Bố tôi nằm im, mắt nhìn trần nhà.

Khi Phiên nói xong, bố tôi quay sang nhìn tôi ở cửa bếp. Rồi ông giơ tay phải lên, chỉ vào cái góc nhà, nơi có cái trống con tôi bịt hồi đầu tháng. Cái trống con bằng bắp tay, tang gỗ mít Trọng đóng bằng mẩu gỗ thừa, mặt da là mẩu da Mốc cuối cùng, cái mẩu tôi giữ lại không nấu keo, vừa đủ một mặt nhỏ.

– Cầm... cái trống... – Bố tôi nói với Phiên. – Ra... đầu làng.

Phiên nhìn cái trống con, rồi nhìn bố tôi.

– Đánh... khẽ. – Bố tôi nói. – Một tiếng. Bố... nghe được... thì gả.

U tôi buông tay tôi ra, há hốc miệng.

– Ông ơi, đầu làng cách nhà mình gần một cây số, ông nghe thế nào được...

Bố tôi lấy cái cốc nhựa gõ vào thành giường. Một tiếng. Im đi.

Phiên cầm cái trống con, đi ra cổng. Tôi muốn chạy theo, nhưng bố tôi nhìn tôi, cái nhìn ngày bé tôi sợ nhất. Tôi đứng lại. Tôi ngồi xuống mép giường bố tôi, nghe tiếng dép của Phiên xa dần ngoài ngõ, rồi mất hẳn.

Nhà tôi im phăng phắc. U tôi đứng ở cửa, hai tay chắp trước ngực như đang khấn. Ngoài sân, con gà mái cục tác một tiếng rồi cũng im. Gió chiều tháng Tư lùa qua cửa sổ, mang theo mùi rơm rạ, mùi khói bếp nhà ai.

Tôi nhìn bố. Bố tôi nằm nghiêng, mặt quay ra cửa sổ, mắt nhắm. Cái tai phải của ông, cái tai năm mươi năm nghe trống, hướng về phía đầu làng.

Năm phút. Mười phút. Tôi nghe tim mình đập trong lồng ngực, to hơn bất cứ cái trống nào.

Rồi, rất xa, rất mỏng, lẫn trong tiếng gió, tiếng một con chó sủa, tiếng xe máy ai đi ngoài đường cái, tôi nghe thấy. Hay tôi tưởng tôi nghe thấy.

Thùng.

Một tiếng. Trầm. Ấm. Ngắn, như người nói xong một câu thì ngừng lại thở.

Bố tôi không mở mắt. Ông giơ bàn tay phải lên, cầm cái cốc nhựa, gõ vào thành giường.

Một tiếng.

Một tiếng là được.

— Hết —

Mục lục Vết sẹo lưỡi liềm trên mặt trống

  1. 1Bốn giờ sáng có người chở da trâu tới8 phút
  2. 2Giàn phơi9 phút đọc
  3. 3Ba đêm canh da9 phút đọc
  4. 4Tang trống gỗ mít9 phút đọc
  5. 5Ông cụ đi tìm vết sẹo10 phút đọc
  6. 6Ai nói với ông9 phút đọc
  7. 7Đường đi của một tấm da9 phút đọc
  8. 8Nửa tấm da còn lại9 phút đọc
  9. 9Mặt đực, mặt cái10 phút đọc
  10. 10Mùng chín tháng Giêng9 phút đọc
  11. 11Đánh khẽ10 phút đọc

Về truyện này

Vết sẹo lưỡi liềm trên mặt trống là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Trang của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →