Chương 1: Cô sờ xe
Sương nhắm mắt lại, áp mu bàn tay phải lên tai xe, và chiếc xe nói dối cô trước khi bàn tay cô đi hết một gang.
Sáu giờ sáng, con đường ven biển phía Sơn Trà còn ướt sương. Biển phẳng như một tấm tôn xám, mặt trời mới nhô lên khỏi đường chân trời một khoanh đỏ quạch. Mấy bà tắm biển sớm đội nón lá đứng túm tụm ở vỉa hè, chỉ trỏ về phía chiếc xe gầm cao bảy chỗ màu đen đang chúi đầu vào một cột đèn chiếu sáng. Đầu xe bẹp vào một đoạn, cản trước nứt toác, một bên đèn pha vỡ vụn, nắp ca-pô vênh lên như cái miệng há hốc. Nước làm mát chảy thành vệt xanh lét trên mặt đường nhựa.
Người lái xe đứng hút thuốc cạnh xe cứu hộ, một thanh niên chừng ba mươi, áo phông trắng, quần lửng, dép tông. Anh ta gọi tổng đài bảo hiểm lúc năm giờ hai mươi. Xe cứu hộ đến lúc năm giờ bốn mươi, trước cả giám định viên. Sương đến lúc năm giờ năm mươi lăm, xe máy còn chưa kịp tắt máy.
Cô không chụp ảnh ngay. Cô đi một vòng quanh xe, chậm, như người đi quanh một con bò ở chợ phiên. Rồi cô dừng lại ở tai xe trước bên trái, chỗ tấm tôn cong vòng ôm lấy bánh, ngay sát vùng bẹp. Cô tháo găng tay, nhắm mắt, và áp mu bàn tay lên mặt sơn.
Mu bàn tay, không phải lòng bàn tay. Lòng bàn tay có chai, có mồ hôi, có những đường chỉ tay làm nhiễu. Mu bàn tay mỏng da, nhạy như mặt trống. Ba cô dạy cô thế từ năm cô lên tám, trong cái tiệm gò hàn ở Tam Kỳ, khi cô đứng không tới nóc ca-pô một chiếc xe khách. "Mắt mình bị sơn lừa, con à. Sơn bóng thì mắt thấy phẳng. Mu bàn tay thì không bị lừa."
Cô vuốt từ trên xuống, chậm, từng phân một. Lớp sơn đen mịn, mát lạnh vì sương. Đến chỗ cách mép vùng bẹp chừng một gang tay, mu bàn tay cô vấp phải một gợn rất khẽ. Không phải vết lõm. Cũng không phải vết lồi. Đó là một đường biên mềm, như mép một miếng băng dán dưới lớp áo. Cô vuốt ngang qua đường biên ấy ba lần. Ba lần nó vẫn ở đó, uốn cong thành một hình bầu dục cỡ bằng bàn tay người lớn, mà vùng bẹp mới thì nằm gọn bên trong.
Cô mở mắt. Dưới ánh mặt trời xiên, nhìn bằng mắt thường thì tấm tôn chỉ có một màu đen bóng, không có đường biên nào hết.
– Chị làm gì thế? – Người lái xe đi lại, giọng nửa tò mò nửa khó chịu. – Chị là giám định của bảo hiểm hả?
– Dạ, em bên Bảo hiểm Nam Hưng. – Sương nói. – Anh cho em xem giấy tờ xe với bằng lái.
Anh ta đưa cái ví da ra, rút giấy tờ. Giấy đăng ký xe đứng tên Trà Thị Lý. Giấy chứng nhận bảo hiểm vật chất xe, gói cao nhất của công ty, cấp được bốn mươi ba ngày. Bằng lái đứng tên Lê Bá Thắng, ba mươi mốt tuổi. Kèm theo là một tờ giấy uỷ quyền sử dụng xe có chữ ký và dấu vân tay của chủ xe.
– Chủ xe là ngoại em. – Thắng nói, trước khi cô hỏi. – Bà già rồi, đứng tên cho em thôi.
Sương gật, ghi vào máy tính bảng. Rồi cô mở cái hộp nhựa đeo bên hông, lấy ra một cái máy nhỏ bằng bao thuốc lá, có một đầu dò bằng kim loại. Máy đo độ dày lớp sơn. Cái máy cô đang dùng là máy cũ của phòng, mặt kính đã trầy, nhưng vẫn chạy được.
Cô đặt đầu dò lên nắp ca-pô, chỗ không bị bẹp. Màn hình nhảy số: một trăm ba mươi tám micromet. Lớp sơn zin của một chiếc xe mới, đúng như sách. Cô đặt lên cửa trước: một trăm bốn mươi hai. Cô đặt lên tai xe, ngoài đường biên bầu dục: một trăm ba mươi lăm. Rồi cô đặt vào trong đường biên, chỗ mu bàn tay vấp lúc nãy.
Chín trăm sáu mươi.
Cô đo lại. Chín trăm năm mươi tư. Cô dịch đầu dò sang một phân. Một nghìn không trăm mười hai.
Gần một ly sơn và bả. Gấp bảy lần lớp sơn zin. Không ai sơn dày thế cho đẹp. Người ta chỉ trét dày thế khi bên dưới có một vết lõm cũ cần lấp đầy.
– Xe mua mới hả anh? – Sương hỏi.
– Mua lại. – Thắng nói, rít một hơi thuốc. – Xe chạy được hai năm. Đẹp như mới.
– Trước đây xe có bị va quệt gì không anh?
– Không. – Anh ta trả lời nhanh, rồi chêm thêm, nhanh hơn nữa. – Lúc mua bảo hiểm, bên chị cũng cử người xuống chụp ảnh rồi mà. Xe sạch trơn.
Sương không nói gì. Cô chụp ảnh tai xe từ bốn góc. Cô chụp màn hình máy đo đặt trên từng điểm, có cả ngón tay mình trong khung hình để thấy rõ vị trí. Rồi cô đi ra cái cột đèn, ngồi xổm xuống, nhìn chân cột.
Cột đèn bằng thép mạ kẽm, cao chừng mười mét. Chiếc xe hai tấn đâm vào với tốc độ đủ làm bẹp cả đầu, mà chân cột chỉ trầy một vệt sơn đen dài bằng ngón tay, đế bê tông không nứt một đường nào. Trên mặt đường, phía sau xe, không có vệt phanh. Chỉ có vệt nước làm mát xanh lét, và mấy mảnh nhựa đèn pha vương vãi thành một hình quạt rất gọn, như người ta vừa đổ ra từ một cái túi.
Cô ngồi đó lâu đến mức một bà tắm biển phải hỏi: "Con ơi, có răng không con?" Cô ngẩng lên cười, bảo dạ không răng, con coi chút thôi.
Điện thoại trong túi áo cô rung lên. Màn hình hiện tên "Anh Tiệp – TP".
Lê Quang Tiệp là trưởng phòng bồi thường xe cơ giới của chi nhánh, sếp trực tiếp của cô. Bốn mươi sáu tuổi, cao, trắng, tóc chải ngược, nói năng nhỏ nhẹ, cười nhiều, được lòng cả giám đốc chi nhánh lẫn các gara liên kết. Ba năm trước, chính anh ta ký quyết định nhận cô vào làm, và nói với cả phòng: "Con gái thợ gò, nghề trong máu, các anh chị chỉ thêm cho em."
– Sương à. – Giọng Tiệp mềm như mọi khi. – Em đang ở hiện trường xe đen trên đường ven biển phải không?
– Dạ.
– Xe đấy của khách quen bên gara Hoà Vượng giới thiệu. Gói cao nhất. Em chụp ảnh xong thì cho xe về gara anh Vượng luôn nha, đừng để xe đứng ngoài đường lâu, người ta quay clip lại phiền.
– Anh Tiệp. – Sương nói. – Tai xe trước bên trái có dấu hiệu sửa chữa cũ. Em đo độ dày sơn được gần một nghìn micromet, vùng bả cũ bao trọn vùng va chạm mới. Hiện trường cũng có mấy điểm không khớp. Em đề nghị chưa chấp nhận phương án sửa chữa, cần xác minh thêm.
Đầu dây bên kia im một nhịp. Chỉ một nhịp, rồi giọng Tiệp lại mềm như cũ.
– Cái máy đo của phòng mình cũ rồi em. Lần trước anh Thanh đo cái xe bán tải cũng ra số lung tung. Em đừng tin nó quá.
– Em không chỉ dựa vào máy, anh. – Cô nói. – Em sờ thấy đường biên vùng bả trước khi đo.
– Sờ. – Tiệp nhắc lại, và cô nghe trong giọng anh ta có một tiếng cười rất khẽ. – Ừ, được. Em cứ ghi ý kiến của em vào biên bản. Còn phương án thì để anh xem. Em cho xe về gara đi.
Anh ta cúp máy.
Xe cứu hộ móc chiếc xe đen lên, kéo đi. Thắng ngồi ghế phụ xe cứu hộ, tay vẫn kẹp điếu thuốc. Đến lúc xe chạy ngang qua chỗ Sương đứng, anh ta nhìn xuống cô qua cửa kính, không cười, không gật, chỉ nhìn.
Sương đứng lại một mình bên cột đèn. Gió biển bắt đầu thổi, hong khô vệt nước làm mát trên mặt đường. Cô nhìn lại mu bàn tay phải của mình. Trên đó còn dính một chút sương, một chút bụi đen.
Cô về đến văn phòng chi nhánh trên đường Nguyễn Văn Linh lúc tám giờ. Toà nhà mười hai tầng, công ty thuê ba tầng từ năm đến bảy. Phòng bồi thường xe ở tầng sáu, mười bốn cái bàn xếp thành hai dãy, mùi cà phê sữa và mùi giấy in. Ngô Hữu Thanh, giám định viên ngồi bàn đối diện, đang ăn bánh mì, thấy cô vào thì giơ tay chào kiểu giơ súng.
– Cô sờ xe về rồi đó. – Thanh nói to, đủ cho cả dãy bàn nghe. – Hôm nay sờ được chi?
Mấy người cười. Cái tên "cô sờ xe" có từ năm đầu tiên cô vào làm. Hồi ấy Thanh đi giám định chung với cô một chiếc sedan trầy cửa, thấy cô nhắm mắt vuốt tay dọc thân xe, về kể lại cho cả phòng nghe với đủ điệu bộ. Ba năm, cô chưa bao giờ đính chính. Ba cô bảo: người ta gọi mình bằng cái mình làm, thì là người ta nhớ cái mình làm.
– Sờ được gần một ly bả. – Sương nói, ngồi xuống bàn, cắm máy tính bảng vào sạc.
Thanh ngừng nhai. Anh ta là người trong nghề, biết một ly bả nghĩa là gì.
– Xe đen bảy chỗ trên đường ven biển hả? – Anh ta hỏi, nhỏ hơn.
– Ừ.
Thanh nhìn về phía cửa phòng trưởng phòng, cánh cửa kính mờ ở cuối dãy, rồi cúi xuống ăn tiếp, không nói nữa.
Sương mở hồ sơ trên máy, gõ biên bản giám định. Cô gõ chậm, từng dòng, đúng những gì đã thấy: vị trí va chạm, mức độ hư hỏng, số đo độ dày sơn từng điểm, đường biên vùng bả cũ, tình trạng chân cột đèn, không có vệt phanh. Ở mục "ý kiến giám định viên", cô viết: "Đề nghị chưa chấp nhận phương án sửa chữa. Đề nghị xác minh lịch sử sửa chữa của xe và tình trạng xe tại thời điểm cấp đơn."
Rồi cô mở hồ sơ cấp đơn bảo hiểm của chiếc xe, để xem ảnh chụp lúc cấp đơn mà Thắng nói.
Hồ sơ có mười hai tấm ảnh. Mười hai tấm, tấm nào cũng chụp từ xa, trong bóng râm của một hàng cây, chiếc xe đen bóng loáng như vừa rửa. Không có tấm nào chụp cận tai xe trước bên trái. Ở ô "Cán bộ giám định cấp đơn", có một chữ ký cô quen: chữ "T" kéo dài, cái móc cuối vòng lên thành một vòng tròn nhỏ.
Cô ngồi nhìn chữ ký ấy rất lâu. Rồi cô kéo xuống phần thông tin chủ xe, ở trang cuối bản quét hồ sơ cấp đơn, nơi có bản chụp căn cước công dân.
Trà Thị Lý. Sinh năm 1944. Thường trú tại một kiệt nhỏ ở phường Hải Châu.
Tám mươi hai tuổi. Ở mục "Giấy phép lái xe của chủ xe", người ta để trống. Bên cạnh có một dòng chú thích viết tay bằng mực xanh, nét chữ nghiêng: "Chủ xe không có bằng lái, uỷ quyền cho cháu ngoại sử dụng."
— Hết chương 1 —
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe