Chương 9: Hũ mắm năm mười tám tuổi
Nhật ký Chim Sáo, rạng sáng ngày thử thứ ba mươi lăm. Ghi nhận bốn mươi chữ trong bốn mươi phút. Đoán chữ: tắt. Không có chữ nào bị lọc.
Ba tôi quỳ xuống bên cái hũ như người ta quỳ trước một cái lư hương.
Ba tháo sợi dây gai trước. Sợi dây đã mục, ba chỉ kéo nhẹ là đứt. Rồi tới lớp bao tải, khô cứng như vỏ cây, ba phải bóc từng mảng. Bên dưới lớp bao tải là một lớp giấy dầu, rồi một lớp lá chuối khô, quấn quanh cổ hũ. Cái miệng hũ được đậy bằng một cái nắp sành nhỏ, quanh mép nắp trét kín một lớp sáp ong đã ngả màu nâu sậm, cứng như đá.
Ông nội đứng ở cửa kho, vịn gậy. Tôi đã kéo cái ghế đẩu tới cho ông ngồi, ông không ngồi. Ông đứng nhìn ba làm, không nói gì, chỉ có cái gân bên thái dương giật nhẹ.
Ba lấy con dao nhỏ trong túi quần, cẩn thận cạo lớp sáp. Từng mảnh sáp rơi xuống nền đất. Mất gần mười phút. Rồi ba đặt hai tay lên cái nắp sành, xoay nhẹ. Nắp không nhúc nhích. Ba xoay mạnh hơn. Một tiếng "cục" khẽ, như tiếng khớp tay ai đó bẻ trong đêm.
Nắp mở.
Cái mùi bay lên không giống mùi chượp trong kho. Mùi chượp nồng, gắt, xộc thẳng lên mũi. Mùi này thì khác. Nó đằm, nó sâu, có cái gì giống mùi đường thắng cháy cạnh, giống mùi gỗ cũ phơi nắng, lẫn trong cái mặn rất xa, rất lặng của biển. Tôi đứng cách cái hũ ba bước mà vẫn ngửi thấy, và tôi biết mùi đó sẽ theo tôi rất lâu.
Ba cầm cây đèn pin rọi vô miệng hũ. Bên trong là nước mắm, gần đầy, màu nâu sậm gần như đen, đặc sánh, mặt nước phẳng lặng như mặt gương. Ánh đèn chiếu vô không xuyên qua được, chỉ đọng lại trên mặt một vệt sáng hổ phách.
– Cái này... – Ba nói. – Cái này là cái gì ba?
Rồi ba thấy chữ.
Trên vai hũ, ngay dưới cổ, có mấy chữ khắc bằng mũi đinh. Nét khắc nguệch ngoạc, sâu, như người khắc không quen cầm đinh mà cố bấm thật mạnh để chữ đừng phai. Ba rọi đèn vô. Tôi bước tới, cúi xuống, đọc:
"Tảo. Mẻ đầu. Mười tám tuổi."
Ba đặt cây đèn pin xuống nền đất. Ba quỳ đó, hai tay đặt trên đầu gối, nhìn mấy chữ khắc, nhìn rất lâu.
– Mẻ hỏng. – Ba nói, giọng khàn đặc. – Mẻ con đổ muối sai. Mặn chát. Ba nói đổ cho cá ăn. Con nghe ba nói. Cả làng nghe.
Cái loa ở cổ ông nội rè lên.
– Mặn.
Ông dừng. Cằm ông giật. Ba quay lại nhìn ông. Tôi cũng nhìn ông. Ông đứng vịn gậy ở cửa kho, ánh đèn pin hắt từ dưới lên làm mặt ông nhìn già hơn, gầy hơn, mà cũng sắc hơn.
– Mặn... chát. – Cái loa đọc. Rồi im một lúc. Rồi: – Rút... nhĩ. Bỏ... hũ. Chờ.
Tôi hiểu. Ba tôi cũng hiểu, vì ba lớn lên trong cái kho này. Mẻ mắm đó mặn quá, chưa ăn được. Ông không đổ. Ông để chượp nằm trong thùng mười bốn cho đủ ngày, rồi rút lấy nước nhĩ, rồi đổ vô hũ sành, trét sáp, đặt lại vô thùng, phủ muối, đậy ván, đè đá. Và ông chờ.
– Bao lâu? – Ba hỏi. – Ba chờ bao lâu?
– Ba... mươi... năm.
– Ba nói nó hỏng mà. – Giọng ba vỡ ra. – Ba nói trước mặt cả làng nó hỏng.
Ông nội nhìn ba. Cái loa rè lên một tiếng dài, như ông đang dồn sức vô một chữ rất khó. Mồ hôi rịn ra dưới mép mũ lưới. Tôi nhìn thấy ngón tay trái của ông, chỗ có cái nhẫn xanh, bấu chặt vào thân gậy.
– Mặn... thì... chờ.
Ba tôi cúi xuống. Ba lấy ngón tay trỏ chấm vô mặt nước mắm, một chấm thôi, rồi đưa lên miệng. Ba ngậm ngón tay đó rất lâu. Tôi thấy vai ba rung lên, rồi rung mạnh hơn, rồi cả người ba gập xuống trên cái hũ, như người ta gập xuống trên một nấm mộ.
Tôi cũng chấm thử một chút. Cái mặn đến trước, nhưng không gắt như tôi tưởng. Nó tới, nó nằm yên trên lưỡi, rồi tan ra, và sau cái mặn là một vị ngọt rất sâu, rất lâu, cứ đọng lại ở cuống họng, đọng lại cả khi tôi đã nuốt xuống. Tôi lớn lên với nước mắm nhà, tôi đã nếm cả trăm mẻ. Tôi chưa bao giờ nếm thấy cái vị này. Trong nghề của tôi có một chữ để gọi thứ giống như vậy: độ vang. Một giọng có độ vang là giọng mà khi chữ đã dứt, người nghe vẫn còn nghe thấy nó ở đâu đó trong tai. Mẻ mắm mười tám tuổi của ba tôi có độ vang.
Ba ngồi dậy, lau mặt bằng vạt áo. Rồi ba quay hẳn người lại, ngồi bệt trên nền đất, đối diện với ông.
– Ba. – Ba nói. – Cái tin nhắn. Ba nghe rồi phải không ba?
Ông gật.
– Ba có biết con muốn nói gì sau chữ "sau này" không?
Ông nhìn ba rất lâu. Rồi cái loa đọc:
– Lâm... Kinh.
Ông dừng. Rồi tiếp, từng chữ, mỗi chữ cách nhau một hơi thở dài:
– Hai... năm... sau. Tao... lên.
Ba tôi ngồi thẳng người lên.
– Ba lên Lâm Kinh? Ba đi tìm con?
– Hỏi... bến xe. Hỏi... quán. Ba... ngày.
– Ba tìm thấy con?
Ông gật. Cái loa rè lên, lâu lắm, rồi đọc một chữ, rồi một chữ:
– Cửa... sổ. Bếp. Mày... nấu. Tao... thấy.
Tôi phải vịn vào thành thùng mười lăm để đứng cho vững. Ba tôi ngồi đó, miệng hé mở, không ra được một tiếng nào. Tôi biết ba đang nhớ lại một cái bếp nào đó ở Lâm Kinh, gần ba mươi năm trước, có một cái cửa sổ nhìn ra con hẻm, và ba đang cố nhớ xem có một ông già đứng ngoài con hẻm đó không.
– Sao ba không vô? – Ba hỏi, giọng chỉ còn là tiếng thì thào. – Ba đứng ngoài cửa sổ rồi ba về? Ba đi ba ngày rồi ba về không nói với con một tiếng?
Ông nội nhìn xuống cái hũ dưới chân ba. Rồi cái loa đọc, lần này nhanh hơn, như một câu ông đã nói trong đầu mình rất nhiều lần:
– Mặn... thì... chờ.
Ba tôi ôm mặt. Tôi nhìn ông, và tôi hiểu ra rằng chữ "mặn" ông đánh vần hôm trước, khi ông chỉ vào vệt nước mắm loang trên bàn rồi chỉ ra cổng, không phải là lời chửi. Ông thấy ba đang nấu ăn trong một cái bếp ở Lâm Kinh, đang làm cái việc mà ba muốn làm, và ông nghĩ nếu ông bước vô lúc đó, ông sẽ kéo ba về lại cái thùng mắm. Ông đứng ngoài cửa sổ. Ông về. Ông chờ. Cái máy nhắn tin ông đã mua từ năm ba bỏ đi, phòng khi ba gọi về lúc nhà không có ai. Ba gọi đúng một lần, và ông dán băng keo lên nút xoá. Ba không gọi lại. Ông vẫn chờ.
Ông chờ cái mẻ mắm mặn chát ba chục năm. Ông chờ thằng con trai sáu năm. Rồi ông chờ thêm hai mươi bốn năm nữa để nói một câu, và lúc ông chờ được thì ông không còn nói được nữa.
– Còn miếng đất? – Ba hỏi. – Sao ba muốn bán?
Ông giơ gậy lên, chỉ ra phía cổng, ra phía con đường dẫn lên chợ thị trấn. Rồi chỉ vào ba.
– Quán.
Một chữ. Rõ. Không có tiếng "ừm" nào.
Ba ngồi im rất lâu. Ngoài kia, tiếng ghe máy đầu tiên nổ ở cửa biển, báo hiệu ghe cá cơm đêm đã về bến. Tôi nhìn đồng hồ: hai giờ mười. Ông nội đã đứng ở cửa kho bốn mươi phút. Chân phải ông bắt đầu run.
Tôi với ba dìu ông về. Ông nằm xuống ghế bố, thở dốc, mắt nhắm nghiền. Trước khi ông ngủ thiếp đi, cái loa còn rè lên một tiếng, đọc được nửa chữ:
– Thùng...
Rồi im.
Ba không đi ngủ lại. Ba quay ra kho, bưng cái hũ vô nhà, đặt lên cái kệ thấp cạnh bàn thờ. Ba lấy cái chén mắm nhỏ nhất trong chạn, rót ra một chút, chừng một muỗng canh, đặt lên bàn thờ bà nội, ngay cạnh bát nhang. Ba thắp một cây nhang. Ba đứng đó, không khấn, chỉ đứng.
Rồi ba kéo cái ghế đẩu tới cạnh ghế bố, ngồi xuống. Tôi lên gác, nhưng không ngủ được. Qua khe ván, tôi thấy ba ngồi đó cho tới khi trời hửng sáng, một tay đặt hờ lên thành ghế bố, gần bàn tay ông mà không chạm vào. Ông ngủ, hơi thở nặng, thỉnh thoảng rên khẽ. Mỗi lần ông rên, bàn tay ba lại nhích lại gần thêm một chút.
Sáng hôm đó, bảy giờ, điện thoại ba reo. Ông Hưng gọi. Ba bật loa ngoài cho tôi nghe cùng.
– Anh Tảo, xin lỗi gọi sớm. – Giọng ông Hưng vẫn dễ chịu như mọi khi. – Tui có việc gấp phải đi nước ngoài ba tháng, bay tối mai. Tui muốn xin dời ngày ký lên ngày mai, buổi sáng, nếu nhà mình tiện. Tui sẽ dẫn theo cô luật sư và một công chứng viên. Phần phụ lục giọng nói thì luật sư bên tui có góp ý: để cho gọn, bác cứ xác nhận bằng cái máy ở chế độ bình thường, bác bóp nhẫn là được, khỏi phải mệt.
Ba nhìn tôi. Tôi lắc đầu.
– Ngày mai được, anh Hưng. – Ba nói. – Nhưng phần giọng, ba tui sẽ tự nói. Không có chế độ bình thường. Có người làm chứng.
Đầu dây bên kia im một chút. Rồi ông Hưng nói:
– Dạ. Vậy cũng được anh. Hẹn mai.
Ba cúp máy. Tôi quay lại nhìn ông nội, định nói với ông là ba đã giữ lời giùm ông.
Ông đang nằm trên ghế bố, mắt mở, nhìn lên trần. Má tôi đứng bên cạnh, đặt tay lên trán ông. Má quay sang nhìn tôi, mặt tái đi.
– Ổng sốt. – Má nói. – Nóng hầm hập. Đêm qua đứng ngoài kho gió lớn quá.
Tôi chạy tới. Ông nhìn tôi, môi mấp máy. Cái loa ở cổ rè lên, rè mãi, rồi chỉ đọc ra được một tiếng:
– Ừm.
— Hết chương 9 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe