Chương 2: Cái máy nhắn tin trên nắp thùng mười bốn
Nhật ký Chim Sáo, ngày thử thứ hai. Giọng: giọng mẫu số bốn. Số câu được bóp nhẫn cho đọc: một.
Sáng hôm sau má sai tôi ra kho coi mấy cái nắp thùng.
– Đêm qua gió giật. – Má nói, tay vẫn đảo chảo bánh xèo. – Ông mà biết thùng nào hở nắp, ông chửi cả nhà tới trưa. Con coi giùm má, cái nào lệch thì kéo lại cho kín.
Kho mắm nhà tôi là một dãy nhà vách ván lợp tôn, dài chừng ba chục mét, quay lưng ra biển. Bên trong là bốn chục cái thùng gỗ bời lời, cái nào cũng cao hơn đầu người, đai mây quấn quanh bụng bốn năm vòng, nắp đan bằng tre có phủ tấm bạt. Mỗi thùng có một con số sơn đỏ trên hông, từ một tới bốn mươi. Hồi nhỏ tôi được ông cho trèo lên cái thang tre, cầm cây cào dài đảo chượp, mỗi lần tôi đảo sai chiều là ông quát. Ông nói chượp cũng như con nít, phải trở mình cho đều, nằm một bên lâu là nó hư.
Bây giờ chỉ còn mười một thùng có chượp. Hai mươi chín thùng kia trống, đậy nắp cho khỏi mưa tạt vô, gỗ khô nứt chân chim. Từ ngày ba lên thị trấn làm bếp, ông làm một mình, mỗi năm bớt đi vài thùng. Tôi đếm các nắp, kéo lại hai cái bị gió xô, rồi đi dọc dãy thùng trống phía trong cùng, nơi mái tôn thủng một lỗ bằng nắm tay, nước mưa nhỏ xuống thành một vũng nhỏ trên nền đất nện.
Thùng số mười bốn nằm ngay dưới cái lỗ đó. Nắp của nó không phải nắp tre như mấy thùng khác mà là một tấm ván dày, có đè thêm hai cục đá. Trên tấm ván, giữa hai cục đá, có một cái gói bọc ni lông nhiều lớp, cột dây ni lông xanh, nằm gọn như một con mèo ngủ.
Tôi nhớ ra cái thùng này. Hồi nhỏ ông cấm tôi leo lên nó. Mấy thùng khác thì tôi được trèo thoải mái, được thò cây cào xuống khuấy chượp, chỉ riêng thùng số mười bốn là ông quát ngay từ xa: "Xuống! Thùng đó không phải chỗ con nít." Tôi từng tưởng trong đó có rắn. Có lần tôi hỏi má, má chỉ nói thùng đó mục đáy, ông sợ sập. Bây giờ đứng gần, tôi thấy đáy thùng vẫn chắc, đai mây còn mới hơn mấy thùng bên cạnh, như có người vẫn thay đai cho nó đều đặn mà không đổ một con cá nào vô.
Tôi trèo lên thang, nhấc cái gói xuống. Nó nặng hơn tôi tưởng. Qua lớp ni lông đục, tôi thấy cái nắp nhựa trong, thấy hình cuộn băng nhỏ xíu, thấy cái dây điện quấn tròn gọn gàng. Tôi đứng ôm cái gói đó giữa hai hàng thùng, ngửi mùi mắm, mùi gỗ ẩm, mùi ni lông cũ, và tôi biết mình đang làm điều ông không muốn.
– Con Duối đó hả?
Tôi giật mình suýt làm rớt cái gói. Trên bờ tường gạch thấp ngăn giữa kho nhà tôi với kho nhà bên, một cái đầu tóc bạc búi củ hành ló lên, kèm theo cái nón lá rách vành. Bà Tám Cót. Bà đứng trên cái ghế đẩu, hai tay chống lên bờ tường như người ta chống lên quầy hàng chợ.
– Dạ con chào bà Tám.
– Chào cái gì. – Bà nheo mắt nhìn cái gói. – Ổng sai mày ra lấy đồ hả?
– Dạ không. Má con sai con ra coi nắp.
– Ờ. – Bà gật gù như không tin. – Ổng sao rồi? Nghe nói bây gắn cho ổng cái nồi cơm điện lên đầu.
– Cái mũ đọc chữ đó bà. Để ông nói được.
– Nói được thì nói cái gì. – Bà Tám bĩu môi. – Năm chục năm nay ổng nói với tao có ba câu: mụ già, lắm chuyện, về nhà mụ đi. Bây gắn máy chi cho tốn tiền. Ổng cần nói gì thì ổng ngoắc tay.
Nói xong bà leo xuống ghế đẩu, biến mất sau bờ tường. Nhưng một lát sau, tôi nghe giọng bà vọng qua, nhỏ hơn hẳn:
– Mà ổng còn ăn được không mậy?
– Dạ được. Ông ăn hết nửa chén cơm với cá kho.
– Ờ.
Rồi im một lúc lâu. Tôi tưởng bà đã vô nhà, thì giọng bà lại vọng qua, gắt như cũ:
– Mày nói với ổng, mấy đêm ổng nằm viện, tao qua đậy cái thùng mười bốn cho ổng ba lần rồi đó. Lần sau tao không đậy nữa. Thùng nhà ai người đó đậy.
– Dạ. Mà sao bà biết thùng đó...
– Biết cái gì mà biết. – Bà cắt ngang. – Đi vô đi, đứng giữa kho ngửi mắm hoài coi chừng mặn người.
Tôi đứng đó thêm một chút. Cả làng Gò Mù U ai cũng biết nhà mắm Khẩm với nhà mắm Tám Cót kình nhau từ thời ông bà tôi còn trẻ. Người ta kể hai nhà cãi nhau vì một mét đất sân phơi, vì cái giếng chung, vì một mối cá cơm, vì ai làm mắm ngon hơn. Tôi lớn lên nghe hai người già chửi nhau qua bờ tường mỗi ngày như nghe radio, chưa bao giờ thấy họ ngồi chung một chiếu. Vậy mà hôm ông ngã trong kho, người đầu tiên chạy qua là thằng Kèo cháu bà, và người thứ hai, theo lời má tôi kể, là bà Tám, chân không, chạy qua giữa trời mưa.
Tôi ôm cái gói vô nhà, đi thẳng lên gác lửng. Ông nội còn ngủ dưới nhà, tiếng ngáy đều đều. Lục đã về bệnh viện tỉnh từ tối qua, hẹn một tuần sau quay lại, dặn tôi có bản thu thì gửi trước cho anh.
Tôi gỡ từng lớp ni lông. Có cả thảy năm lớp, lớp trong cùng còn được dán băng keo kín mép như người ta gói đồ gửi đi xa. Cái máy nhắn tin nằm bên trong gần như còn mới, nhựa đen bóng, cái nắp trong không trầy một vết. Hai bên có hai cái nút to: một nút phát, một nút xoá. Nút xoá có một miếng băng keo đen dán chéo qua, dán chồng hai lớp. Hồi nhỏ, tôi chưa từng thấy ai trong xóm nói vô cái máy này. Người làng gọi mà không ai bắt thì cúp, ai đời đi nói chuyện với một cái hộp.
Tôi nhìn miếng băng keo đó rất lâu.
Cái máy dùng điện mười hai vôn. Tôi lục trong thùng đồ nghề của ba, tìm được một cục sạc cũ có đầu cắm vừa. Tôi cắm vào. Một cái đèn đỏ nhỏ nháy lên. Cuộn băng trong máy quay ro ro, tua lại từ đầu. Tôi không dám thở mạnh.
Rồi giọng ông nội vang lên.
"Nhà mắm Khẩm đây. Không ai bắt máy thì cứ nói, tui nghe sau. Trời mưa thì đậy nắp thùng giùm cái."
Chừng đó thôi. Hai mươi hai giây, tính luôn khoảng lặng ở đầu và tiếng tít ở cuối. Giọng ông lúc đó trẻ hơn bây giờ chừng ba chục tuổi, khàn, rè rè qua cái loa nhỏ, mỗi chữ rơi xuống như một hạt muối hột. Chữ "cái" ở cuối câu ông kéo dài ra một chút, hơi lên giọng, không phải ra lệnh mà là nhờ. Tôi chưa bao giờ nghe ông nhờ ai cái gì.
Tôi ngồi bệt xuống sàn gác, hai tay ôm đầu gối, nghe lại lần nữa. Rồi lần nữa. Trong nghề của tôi, hai mươi hai giây là đủ để dựng một giọng tạm. Không đẹp, không trơn, nhưng là giọng ông. Tôi đã tính trong đầu cách lọc tiếng rè, cách bù những âm ông không có trong câu chào. Tôi đã định rút điện.
Thì cái máy kêu tạch một tiếng, và một giọng đàn bà máy móc, kiểu giọng của mấy cái máy nhắn tin đời cũ, đọc:
"Có một tin nhắn. Thứ Bảy, chín giờ bốn mươi tối."
Tôi đứng bật dậy, đầu cụng vào xà gác.
Tiếng sột soạt. Tiếng xe cộ rất xa, tiếng còi xe, tiếng ai đó rao gì không rõ. Rồi một giọng con trai, trẻ, khàn như mới vỡ giọng chưa lâu, nói nhanh và hụt hơi:
"Ba... Ba ơi. Con Tảo đây. Con đang ở trên Lâm Kinh. Con xin được chân phụ bếp rồi ba. Con có chỗ ngủ, ba đừng lo. Con biết ba giận con. Mẻ mắm đó con làm hỏng, con biết. Con xin lỗi ba. Nhưng mà ba ơi, con không làm mắm được đâu. Con thích nấu ăn. Con muốn sau này..."
Rồi tiếng tút dài. Rồi tiếng tạch. Rồi im.
Tôi đứng giữa gác lửng, tay vẫn cầm cục sạc. Ngoài kia mưa đã tạnh, nắng lên vàng trên mái tôn, có tiếng ghe máy nổ ngoài cửa biển. Tôi nhẩm tính. Ba tôi bốn mươi chín tuổi. Giọng trong máy chừng mười tám, mười chín. Ba mươi năm. Tin nhắn đó nằm trong cái máy này ba mươi năm, và cái nút xoá bị dán băng keo hai lớp.
Tôi tua lại, nghe lần nữa, tới chữ "con muốn sau này" thì ngừng. Tôi không biết sau này ba muốn gì. Tôi chỉ biết ba đã về. Ba về năm hai mươi lăm tuổi, cưới má, sinh tôi, làm bếp ở chợ thị trấn, không đụng tới một thùng mắm nào nữa. Cả nhà tôi chưa ai từng nhắc tới chuyện ba bỏ nhà đi. Tôi chỉ nghe bà Tám nói bóng gió một lần, hồi tôi mười hai tuổi, rằng "thằng Tảo nó trốn lên thành sáu năm, ông nội mày tưởng nó chết".
Tôi tháo cuộn băng ra khỏi máy, cẩn thận như người ta gỡ một cái gai. Tôi tính sẽ chép cái lời chào ra trước, để dựng giọng, còn tin nhắn thì để nguyên. Tôi tính sẽ nói với ông. Tôi tính sẽ hỏi ông. Tôi còn chưa biết sẽ hỏi gì.
Có tiếng ván cầu thang kêu kẽo kẹt.
Tôi quay lại. Ba tôi đứng ở đầu cầu thang, chỉ ló nửa người lên khỏi sàn gác, một tay vịn thành gỗ. Ba mặc áo bếp trắng, chắc vừa định đi làm thì quay lại lấy món gì. Ba nhìn cái máy nhắn tin trên sàn, nhìn cuộn băng trong tay tôi, nhìn cục sạc. Mặt ba không có biểu cảm gì cả, chỉ có một cái gân nhỏ giật giật ở khoé miệng, giống hệt cái gân của ông nội tối qua khi ông cố nói một chữ không ra.
Tôi không biết ba đứng đó từ lúc nào. Tôi không biết ba đã nghe tới đâu.
– Ba...
Ba không trả lời. Ba nhìn tôi thêm một chút, rồi bước xuống từng bậc, thật chậm, tiếng dép lẹp xẹp đi ra sân, ra cổng. Tôi nghe tiếng xe máy nổ, rồ một cái, rồi xa dần về phía thị trấn.
Dưới nhà, ông nội đã thức. Tôi nghe tiếng lò xo ghế bố, rồi tiếng cái loa ở cổ ông, giọng cô gái mẫu số bốn, trong veo, vô cảm, đọc một câu mà chắc ông bóp nhẫn khi chưa kịp đọc. Đó là câu đầu tiên ông cho máy nói thành tiếng:
– Ai mở cái gì trên gác vậy?
— Hết chương 2 —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe