Chương 1: Ba tiếng huýt lúc năm giờ sáng
Tiếng huýt vọng xuống từ ngọn cây thốt nốt lúc trời còn xám, một tiếng đi lên, một tiếng chùng xuống, rồi một tiếng kéo dài lên cao như sợi chỉ bị gió giật. Tím đánh rơi nguyên cái thau nhôm xuống bờ ruộng.
Cái thau lăn hai vòng trên rơm khô rồi nằm im. Tím đứng sững. Mười lăm năm rồi cô chưa nghe lại cái điệu ấy, mà nghe một lần là cả người cô biết, trước cả cái đầu. Hồi nhỏ, sáng nào cô cũng ngồi chồm hổm dưới gốc thốt nốt chờ đúng ba tiếng đó. Ba cô leo tới ngọn thì huýt. Lên, xuống, lên dài. Nghĩa là: ba tới rồi, con yên tâm.
Cô ngẩng lên. Hàng thốt nốt nhà ông Tư Hia đứng dọc bờ ranh, bảy cây, thân đen sạm, tàu lá xòe ra trên nền trời vừa hửng phía núi Cô Tô. Trên ngọn cây thứ ba có một đốm đèn nhỏ chao qua chao lại. Đèn đội đầu. Có người đang làm việc trên đó, cách mặt đất chừng mười lăm, mười sáu mét.
Tím lượm cái thau, bước qua bờ ranh, đứng dưới gốc cây đó. Một sợi dây màu cam vòng quanh thân cây, buộc vào cái đai ngang hông người trên ngọn. Cô nghe tiếng dao cắt soàn soạt, tiếng ống tre chạm nhau lốc cốc, tiếng nước rót. Mùi ngọt của nước thốt nốt mới hứng bay xuống, lẫn mùi khói rơm còn bám trong ống.
Người đó leo xuống chậm, chân đặt lên từng mấu của cây đòn tre buộc dọc thân cây, hai ống tre đầy nước đeo lủng lẳng sau lưng. Tới khúc còn cách đất chừng hai mét, anh ta mới thấy cô, hơi khựng lại.
– Chị đứng xích ra giùm. Nước sóng ra ướt áo chị đó.
Giọng trầm, nói tiếng Việt rành nhưng có cái âm cuối hơi ngắt của người Khmer. Anh ta nhảy xuống đất, gỡ cái móc dây an toàn, tắt đèn đội đầu. Trời đủ sáng để Tím thấy một gương mặt đen nắng, mắt một mí, tóc cắt ngắn ướt mồ hôi, áo thun xám rách một lỗ ở vai.
– Anh huýt cái điệu đó ở đâu ra vậy? – Tím hỏi, không chào.
Anh ta nhìn cô một hồi, như đang so gương mặt cô với cái gì đó trong trí nhớ.
– Út Tím hả?
– Anh biết tui?
– Con ông Sáu Lộc. Hồi đó em nhỏ xíu, ngồi dưới gốc cây số bảy, hay cầm cái lon sữa bò đựng dế. – Anh nhấc hai ống nước lên vai. – Ông Sáu dạy anh huýt. Ông dạy anh leo luôn.
Tím mở miệng rồi ngậm lại. Cô nhớ lờ mờ có một thằng con trai người sóc dưới chân núi hay theo ba, ốm nhom, đen nhẻm, ba cô gọi là "thằng học trò". Cô nhớ cái lon sữa bò đựng dế, nhớ cả con dế than bị con gà nhà bên mổ mất. Nhưng gương mặt thằng học trò thì không nhớ.
– Anh là Đa? – Cô đoán đại.
– Chau Sóc Đa. – Anh gật đầu. – Em về hồi nào?
– Hai tuần rồi. Má tui bệnh.
– Anh có nghe. – Anh nói, rồi im, như nghe thì nghe vậy thôi chứ không định hỏi thêm. – Anh đi nghen. Còn ba chục cây nữa mới hết.
Anh quay lưng đi về phía hàng thốt nốt kế tiếp. Tím đứng nhìn theo, thấy tay mình còn run. Cô ghét cái việc tay mình run trước một người lạ.
Nhà Tím ở cuối con đường đất đỏ chạy dọc chân núi Cô Tô, xã Tri Tôn. Cái nhà ba gian lợp tôn, sau nhà là lò nấu đường đã nguội ba năm. Cái chảo gang lớn úp ngược trên bếp đất, lớp sét đỏ lốm đốm như lá khô. Ngoài ruộng, dọc bờ ranh, mười hai cây thốt nốt của nhà đứng đó, ba năm nay không ai leo. Cây đòn tre trên thân cây nào cũng đã mục, rớt từng khúc xuống gốc, mối đùn đất lên lấp gần hết.
Má cô nằm trên võng ở hiên, đắp cái mền mỏng, ho từng tràng khô khốc. Bác sĩ ở bệnh viện tỉnh nói phổi bà bị tổn thương lâu năm vì hít khói bếp củi, phải tránh khói, phải nghỉ. Ba mươi năm đứng bên chảo đường, bà Năm Phụng nghe chữ "nghỉ" như nghe người ta bảo bà ngừng thở.
– Mới ra ruộng về hả? – Bà hỏi, mắt vẫn nhắm.
– Dạ. – Tím để cái thau xuống. – Má ơi, sáng nay con gặp anh Đa.
Bà Năm mở mắt. Cái võng ngừng đưa.
– Thằng Đa leo cho ông Ba Quờn. – Bà nói. – Nó leo giỏi. Con gặp nó làm chi?
– Con nghe ảnh huýt. Giống y ba.
Bà Năm không nói gì. Bà kéo cái mền lên tới cằm, quay mặt vô vách. Tím đứng một hồi, rồi đi vô bếp nấu cháo. Từ ngày cô về, chuyện gì dính tới ba là má cô quay mặt vô vách như vậy.
Tím về Tri Tôn không phải chỉ vì má bệnh. Năm năm làm kế toán kho cho một cửa hàng điện máy ở Long Xuyên, ngày nào cô cũng đếm tủ lạnh, máy giặt, ký phiếu xuất, ký phiếu nhập, và cuối tháng nhận lương bảy triệu rưỡi. Cô không ghét việc đó. Cô chỉ thấy mình không có trong việc đó. Cái tủ lạnh nào cũng giống cái tủ lạnh nào, và cô cũng giống bất kỳ ai khác ngồi cái ghế đó.
Còn ở đây, mỗi chảo đường mỗi khác. Hồi nhỏ, cô đứng cạnh má, nhìn nước thốt nốt từ trong như nước dừa ngả sang vàng, rồi vàng sậm, rồi nâu cánh gián. Má dạy cô nghe tiếng sôi. Lúc nước còn loãng, nó sôi lục bục như mưa rơi trên mái lá. Lúc gần tới, tiếng sôi đặc lại, rền rền, bọt to và chậm, vỡ ra nghe "bộp" một cái. Lúc đó phải nhắc chảo. Trễ một chút là khét, sớm một chút là đường không đông.
Ba năm trước, khi má bắt đầu ho, cái lò nhà cô tắt. Giờ thì ở cả vùng này, đường thốt nốt người ta bán ngoài chợ, bán lên mạng, phần nhiều đã pha đường cát trắng. Pha cho đông nhanh, cho nhiều ký, cho trắng đẹp, cho rẻ. Người mua thành phố cầm cục đường vàng nhạt, ngửi thấy thơm thơm thì tưởng đó là thốt nốt. Tím biết mùi thốt nốt thật. Nó không thơm kiểu vani. Nó thơm kiểu khói và mật, có chút chua nhẹ ở cuối.
Tuần trước, chị Hồng Nhạn, bạn ở chung phòng trọ hồi cô mới lên Long Xuyên, giờ bán đồ khô trên mạng ở Sài Gòn, gọi về:
– Mày làm đi Tím. Đường thật, có ảnh lò, có ảnh má mày, có người leo. Chị bán được. Đợt đầu chị lấy năm chục ký. Khách của chị là mấy bà mẹ làm bánh cho con, họ chịu trả tiền cho đồ thật.
Năm chục ký. Bảy lít nước thốt nốt được chừng một ký đường. Muốn năm chục ký phải có ba trăm năm chục lít nước. Mười một cây nhà cô, nếu leo đều, mỗi sáng được chừng sáu chục lít. Một tuần là đủ.
Mười một cây chứ không phải mười hai. Cây số bảy thì không tính.
Cây số bảy là cây cao nhất, đứng giữa hàng, cái thân hơi cong về phía ruộng như người đang cúi xuống coi lúa. Ba cô té từ cây đó. Má cô không cho ai đụng tới nó. Mấy năm đầu, bà còn tính chặt, nhưng không ai dám chặt, người ta nói cây thốt nốt trồng tới năm sáu chục năm, chặt cây ông bà để lại là xui. Thế là nó đứng đó, năm nào cũng trổ buồng, không ai hứng, hoa khô rụng xuống ruộng.
Chiều hôm đó Tím đi bộ ra lò của ông Ba Quờn ở đầu xóm. Lò ông lớn, sáu cái chảo xếp hàng dưới mái tôn, khói bay mù mịt. Bao đường cát trắng chất trong góc, cao tới ngang ngực. Tím nhìn mấy bao đó, không nói gì.
Đa đang ngồi trên băng ghế gỗ ngoài sân, cầm con dao nhỏ gọt mấy cái kẹp tre. Thấy cô, anh đặt dao xuống.
– Anh Đa. – Tím nói thẳng. – Tui muốn nhóm lại lò nhà tui. Tui cần người leo mười một cây. Tui trả công theo lít, hoặc chia theo đường, tùy anh.
Đa nhìn mấy cái kẹp tre trong tay.
– Anh leo cho ông Ba. Có giấy.
– Giấy gì?
– Ông ứng tiền cho anh. Anh leo trả dần. Hết mùa này với mùa sau.
– Thì anh leo cho tui lúc ngoài giờ.
– Không có ngoài giờ đâu em. – Anh cười, cái cười rất nhanh. – Sáng bốn giờ rưỡi anh lên cây, leo tới chín giờ. Chiều ba giờ leo lại, treo ống tới sáu giờ. Bốn chục cây. Chân anh hết ngoài giờ rồi.
– Bốn giờ rưỡi. Vậy anh leo cho tui lúc bốn giờ.
Đa nhìn cô lâu hơn.
– Bốn giờ thì nước chưa đủ. Phải để qua đêm mới đầy ống.
– Thì leo trễ một chút cho ông Ba. Năm giờ.
– Ông Ba không chịu.
– Anh hỏi chưa?
Đa không trả lời. Một người đàn ông chừng sáu chục tuổi từ trong lò bước ra, mặc áo bà ba trắng, đội nón vải, tay cầm cái cân đồng hồ. Ông nheo mắt nhìn Tím.
– Con Út nhà bà Năm phải không? Lớn quá trời.
– Dạ con chào chú Ba.
– Nghe nói con về nhóm lò lại? – Ông Ba Quờn cười, giọng không có chút gì khó chịu. – Hay. Chú mừng. Mà con nghe chú nói nè, giờ làm đường không như hồi má con nữa đâu. Người ta mua cái rẻ, con. Con làm đường thiệt, con bán ba trăm ngàn một ký, người ta chê mắc, qua mua của chú một trăm hai. Rồi con lấy gì trả công thợ? Chú nuôi hai chục đứa thợ, con đường nào chú bán được thì chú làm con đường đó.
– Dạ con biết. – Tím nói. – Con chỉ cần một người leo.
– Thằng Đa thì không được. – Ông Ba vẫn cười. – Nó là thợ giỏi nhứt của chú. Mà nó còn mắc nợ chú. Vậy nghen con. Thiếu đường thì qua chú lấy, chú tính giá người nhà.
Tím cảm ơn rồi đi về. Lúc ra tới cổng, cô quay lại. Đa vẫn ngồi đó, con dao gọt tre đứng yên trên tay, mắt nhìn theo cô. Khi thấy cô quay lại, anh cúi xuống gọt tiếp.
Tối đó Tím ngồi một mình ở hiên, mở máy tính tiền trong điện thoại ra tính. Nếu thuê thợ leo khác, phải đi xa, ra tận Tịnh Biên, công đắt gấp rưỡi. Nếu mua nước thốt nốt của người ta về nấu, nước mua không biết người ta đã pha gì vào ống chưa. Có người bỏ sẵn đường cát vô ống từ trên cây. Cô đã thấy.
Gần chín giờ, má cô bỗng ngồi bật dậy trên võng, ho một tràng dài, rồi chỉ tay ra ruộng.
– Út. Con coi kìa.
Tím nhìn theo. Trăng mười bốn treo trên đỉnh núi, sáng trắng cả cánh đồng gặt rồi. Mười hai cây thốt nốt đứng đen sì trên bờ ranh. Cây số bảy, cây cong, cây không ai được đụng tới, giờ có một vệt sáng chạy dọc thân, từ gốc lên tới ngọn.
Một cây đòn tre mới. Tre còn xanh, ánh trăng rọi vô sáng lên từng mấu.
Má cô đứng dậy, chân không, đi thẳng ra ruộng. Tím chạy theo. Tới gốc cây số bảy, bà Năm Phụng đặt tay lên cây đòn tre, rờ từng sợi dây mây buộc chặt, rờ tới đâu tay bà run tới đó.
– Đứa nào? – Bà nói, giọng khàn đặc. – Đứa nào dám?
— Hết chương 1 —
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe