Chương 9: Mưa trái mùa
– Dạ, con không giải thích được. – Tím nói vô điện thoại. – Vì con không biết mấy gói đó ở đâu ra.
Đầu dây bên kia im lặng. Tím nghe được tiếng máy trộn bột chạy rì rì phía sau, tiếng ai đó gọi nhau trong xưởng.
– Em nói vậy, ai cũng nói được. – Bà Khuê nói.
– Dạ con biết. Nên con không xin cô tin con. – Tím nói. Cô đứng giữa lò, nhìn mấy chục tán đường gói lá chuối xếp trên kệ, một trăm ba mươi ký cô để dành cho bà. – Con chỉ xin cô một chuyện. Cô cho người xuống đây. Bất cứ ngày nào, giờ nào, không cần báo trước. Người của cô đứng cạnh chảo, tự múc mẫu, tự niêm phong, tự đem đi đo. Kệ đường con để dành cho cô ở đây, cô muốn lấy mẫu tán nào thì lấy tán đó.
– Em biết người ta đo bằng cách nào không?
– Dạ không.
– Đo tỷ lệ đồng vị cacbon. – Bà Khuê nói, giọng vẫn lạnh nhưng chậm lại, như người giảng bài. – Cây mía với cây thốt nốt hút khí cacbonic theo hai kiểu khác nhau, để lại hai cái dấu khác nhau trong đường. Pha đường mía vô, dù một phần mười, máy cũng thấy. Năm ngày mới có kết quả. Tiền đo không rẻ.
– Dạ. Tiền đo con chịu.
– Kết quả mà có đường mía thì sao?
– Thì con làm đúng như điều khoản cô viết tay trong hợp đồng. – Tím nói. – Hoàn tiền gấp ba. Cô công bố.
Bà Khuê im lâu hơn.
– Mai người của tôi xuống. – Bà nói. – Trong năm ngày chờ kết quả, em cứ làm hàng. Tôi không hủy đơn. Tôi cũng không hứa gì.
Bà cúp máy. Tím đứng giữa lò, tay cầm điện thoại, nghe tim mình đập. Cô biết mình vừa đặt cược cái gì. Cô cũng biết cô không pha một hạt đường mía nào. Nhưng giữa biết và chứng minh là năm ngày.
Đa về lúc tám giờ tối, ướt sũng mồ hôi, áo dính đầy xi măng. Anh dựng chiếc xe đạp ở bờ ranh, đi thẳng tới cái cọc rào, lấy sợi dây cam xuống, rồi mới đi vô sân.
– Điện thoại anh rớt xuống hố móng. – Anh nói, trước khi cô kịp hỏi. – Hồi trưa. Lượm lên thì nó chết rồi. Anh xin lỗi.
Tím nhìn anh. Cô định nói một câu gì đó, cái câu cô đã nghĩ suốt từ sáng. Nhưng thay vì nói, cô bước tới, ôm anh. Ôm chặt, mặt áp vô vai áo dính xi măng của anh. Anh đứng cứng người một giây, rồi hai tay anh vòng lên, ôm lại.
Trong nhà, má cô ho một tiếng, rất cố ý.
Hai người buông nhau ra. Tím kể cho anh nghe chuyện bà Khuê. Đa nghe xong, im lâu.
– Hộp giấy in hình cây thốt nốt? – Anh hỏi.
– Bả nói hai gói mua trên mạng đựng hộp giấy. Còn gói gửi tới xưởng thì gói lá chuối, y như của em.
– Hộp giấy in hình cây thốt nốt là hộp của kho ông Ba ở Long Xuyên. – Đa nói. – Anh theo xe chở hàng lên đó hoài.
Tím nhớ cái kho trong hẻm, những bịch đường vàng nhạt thơm như kẹo. Cô gật đầu.
– Em biết. Nhưng biết thì chưa đủ.
Ngày hôm sau, trời đổ mưa.
Không phải mưa phùn. Một trận giông thật sự, giữa tháng Chạp, khi đáng lẽ trời phải khô ráo, nắng giòn, gió bấc thổi hiu hiu. Mây đen kéo về từ phía núi Cấm lúc hai giờ chiều, sấm nổ ầm ầm, rồi nước trút xuống như ai lật ngược cái thau. Ruộng gặt rồi ngập lấp xấp. Con đường đất đỏ thành con mương đỏ lòm.
Người trong xóm đứng dưới mái hiên, ngửa cổ nhìn trời, lắc đầu. Mưa trái mùa là cái họa của dân nấu đường. Nước mưa chảy dọc buồng hoa, lọt vô ống tre, làm nước thốt nốt loãng ra. Trời ẩm thì nước chua nhanh, nấu không kịp là hư. Nấu được thì đường cũng khó đông, nhão nhoẹt, phải nấu lâu gấp đôi, tốn củi gấp đôi.
Mà mưa không dứt. Ba ngày liền, chiều nào cũng giông.
Ba ngày đó, Tím thấy khói các lò trong xóm vẫn bốc lên đều. Cô đi ngang lò ông Ba, thấy thợ khiêng từng bao đường cát trắng vô. Pha cho đông. Pha cho kịp. Ai cũng pha. Không pha thì đổ bỏ.
Lò nhà cô không pha. Và lò nhà cô bắt đầu đổ bỏ.
Mẻ đầu tiên sau trận mưa, Tím nấu bốn tiếng mà đường không đặc. Mẻ thứ hai đặc được nhưng chua lè. Cô gom hai mẻ hỏng đổ vô cái thùng sau lò, đứng nhìn, hai tay chống nạnh, môi mím chặt.
Người của bà Khuê xuống ngay sáng hôm đó, trước trận mưa đầu mấy tiếng, và ở lại hai ngày. Đó là một cô gái trẻ đeo kính, mặc áo mưa, mang theo một cái thùng giữ lạnh với mấy lọ thủy tinh có nắp vặn. Cô gái đứng cạnh chảo suốt buổi, ghi chép, chụp hình, múc mẫu từ lu nước, từ chảo đang sôi, từ khuôn đường mới đổ, từ kệ đường để dành. Mỗi lọ, cô dán một miếng giấy niêm phong, ký tên, bắt Tím ký bên cạnh. Sáng ngày thứ hai, cô gái thấy cái thùng đường hỏng sau lò, hỏi đó là gì.
– Đường hỏng vì mưa. – Tím nói.
– Chị đổ bỏ hả chị?
– Dạ.
Cô gái nhìn cái thùng một lúc, rồi múc thêm một lọ mẫu từ đó.
Tối ngày mưa thứ hai, Tín gọi. Giọng anh nhỏ, như đang đứng ở chỗ không muốn ai nghe.
– Anh nghe chuyện bà Khuê rồi. – Anh nói. – Anh hỏi ba anh. Ba anh nói ổng không biết gì về mấy gói đó.
– Anh tin không?
Tín im một lúc lâu. Ngoài trời sấm nổ một tràng.
– Anh đang coi lại mấy chuyến hàng đi từ kho Long Xuyên. – Anh nói. – Cho anh vài ngày.
Rồi anh cúp máy, trước khi cô kịp hỏi kiểm cái gì.
Tối ngày thứ ba, Tím đang ngồi trước chảo thứ ba, mắt đỏ hoe vì khói và vì mất ngủ, thì nghe tiếng dép lẹp xẹp. Má cô bước vô lò, đeo cái khẩu trang vải, mặc áo len của ba.
– Má vô đây chi? Khói. Bác sĩ dặn...
– Đứng dậy. – Bà Năm nói.
Tím đứng dậy. Bà Năm ngồi xuống ghế đẩu. Bà không cầm vá. Bà chỉ ngồi đó, nhìn lửa, nhìn mặt nước đang sôi lục bục trong chảo.
– Con đốt lửa lớn quá. – Bà nói. – Nước mưa loãng, lửa lớn thì nó trào. Con sợ trào nên con canh, con canh nên con hạ lửa, con hạ lửa sai lúc. Lên xuống, lên xuống. Nước nó mệt.
– Nước mà cũng mệt hả má?
– Mệt chứ. – Bà nói, giọng nghiêm. – Cái gì nấu cũng biết mệt. Lửa lớn đầu, cho nó sôi bùng lên, đuổi cái nước mưa đi. Rồi riu riu. Riu tới cuối. Đừng có ham.
Tím làm theo. Lửa lớn, rồi riu. Bà Năm ngồi đó hai tiếng, không nói thêm câu nào, chỉ lâu lâu đưa tay chỉ vô bếp, ý là bớt củi, hay thêm củi. Tới giờ thứ năm, chảo đường đặc lại, không chua, màu nâu cánh gián.
– Còn nữa. – Bà Năm nói, khi Tím đổ khuôn. – Nước mưa vô ống thì gom riêng. Ống nào có nước mưa, nấu riêng, nấu liền, đừng đổ chung lu. Chiều nào cũng hun ống lại, khói rơm cho thiệt dày. Biểu thằng Đa leo sớm hơn một tiếng, ba giờ rưỡi, trước khi nước kịp lên men.
– Dạ.
Bà Năm đứng dậy, chống tay vô vách thở một hồi. Rồi bà nhìn tấm bìa các tông trên vách lò, con số được gạch đi viết lại cả chục lần.
– Thiếu bao nhiêu?
– Một trăm chín chục ký, má.
Bà Năm nhìn ra ruộng. Trời đã tạnh, mây tan bớt, vài ngôi sao lấp ló.
– Bốn chục cây vẫn chưa đủ hả?
– Bà con trong sóc cho mượn thêm. Bà Néang Thi hôm qua dắt thằng cháu qua, nói thằng Đa về rồi thì bà cho mượn chín cây như cũ, còn biểu thằng cháu phụ leo. Mà vẫn thiếu. Mưa làm nước loãng, bảy lít không ra một ký nữa, phải mười lít.
Bà Năm im lặng một lúc lâu. Tím thấy hai bàn tay má nắm vô nhau, siết chặt.
– Cây số bảy năm nay ra mấy buồng?
Tím giật mình. Cô không trả lời ngay.
– Anh Đa nói... – cô nói chậm, – anh Đa nói chín buồng. Nhiều nhứt hàng.
– Biểu thằng Đa leo cây số bảy đi. – Bà Năm nói. Giọng bà không run. – Buộc đòn lại, bóp buồng, hứng nước. Ba con mà còn, ba con cũng biểu vậy.
Đa nghe Tím kể lại, đứng im rất lâu. Rồi anh không nói gì, đi lấy bó tre giỗ ra, vót lại từng mấu.
Sáng hôm sau, lúc trời còn tối, anh buộc đòn trên cây số bảy, lần đầu tiên không phải để huýt rồi gỡ xuống. Anh kẹp chín buồng hoa. Mỗi ngày bóp một lần. Tím đứng dưới gốc mỗi sáng, ngửa cổ nhìn, đếm.
Mười bốn tháng Chạp, cô gái của bà Khuê gọi điện. Kết quả kiểm nghiệm về rồi. Cô không nói kết quả. Cô nói bà Khuê muốn tự xuống Tri Tôn nói với Tím, sáng mười bảy.
Mười sáu tháng Chạp, cây số bảy cho giọt đầu tiên, sớm hơn Đa tưởng. Đa mở ống tre cho cô coi, chừng hai chén nước trong vắt, ngọt lịm.
– Cây này nó chờ lâu quá. – Anh nói. – Nó ra nước ngọt nhứt hàng.
Chiều hôm đó Tím ngồi trong lò, đếm lại kệ đường lần thứ mấy chục, nghĩ tới sáng mười bảy. Ngoài trời, không khí đặc quánh, nóng hầm hập, không một ngọn gió. Chuồn chuồn bay thấp là là trên mặt ruộng.
Bốn giờ chiều, Đa leo cây số bảy để treo ống, như mọi chiều.
Bốn giờ hai mươi, trời phía núi Cấm tối sầm lại như ai kéo một tấm màn. Một luồng gió lạnh quét ngang cánh đồng, rạp cả những đống rơm. Hàng thốt nốt oằn mình. Tàu lá quất vô nhau nghe rào rào như mưa đá.
Tím chạy ra khỏi lò. Trên ngọn cây số bảy, cái bóng người bé xíu đang bám lấy thân cây, tàu lá quật tứ tung xung quanh.
— Hết chương 9 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe