Chương 6: Chuyện hôm cây số bảy
Ông Ba Quờn kể chuyện dưới gốc me, giọng đều đều, không thêm không bớt, như người kể lại một chuyện mình đã kể cho chính mình nghe nhiều lần.
Mười lăm năm trước, cũng tháng Chạp, cũng mùa nấu đường. Ông Sáu Lộc dạy thằng Đa leo được hai năm. Thằng nhỏ mười lăm tuổi, ốm nhách, mà leo lẹ như sóc. Ông Sáu khen nó có cái chân biết nghe cây. Sáng hôm đó, ông cho nó leo cây số bảy một mình. Cây cao nhất, cong nhất, khó nhất. Leo được cây đó là ra nghề.
– Chú đứng trên cây bên ruộng ông Tư Hia, mấy cây đó chú thuê của ổng từ hồi đó. Chú thấy hết. – Ông Ba nói. – Thằng nhỏ leo tới gần ngọn thì đụng tổ ong vò vẽ. Tổ to bằng cái nón, nằm trong nách lá, từ dưới nhìn lên không thấy. Ong bu ra đen kịt. Thằng nhỏ bị đốt mấy chục mũi, tay chân cứng đơ, ôm cây không nhúc nhích được, cũng không la được.
Tím đứng tựa lưng vô gốc me. Tiếng chợ xung quanh vẫn ồn ào, tiếng rao bánh, tiếng xe máy, tiếng gà vịt trong lồng, nhưng cô nghe như từ rất xa.
– Ba con leo lên. – Ông Ba nói. – Ổng cởi áo trùm đầu, leo lên tới chỗ thằng nhỏ. Ổng gỡ từng ngón tay nó ra khỏi thân cây, đỡ chân nó đặt xuống mấu dưới, rồi ổng ở phía trên che cho nó, đẩy nó tụt xuống từng khúc. Ong bu hết lên ổng. Thằng nhỏ xuống tới đất thì ba con còn ở khúc thứ chín. Rồi ổng sẩy tay.
Ông Ba ngừng lại. Ông lấy cái nón vải xuống, cầm trong tay, xoay xoay.
– Chú leo xuống, cõng ổng lên xe chở đi bệnh viện. Ổng mất đêm đó. – Ông nói. – Má con biết hết. Má con dặn chú, dặn cả xóm: con Út hỏi thì nói ba nó té, vậy thôi. Mười lăm năm nay không ai nói với con. Chú cũng không nói.
– Sao giờ chú nói?
Ông Ba nhìn cô, rồi nhìn xuống cái nón trong tay.
– Chú nói thiệt, chú có giận. – Ông nói. – Thằng Đa nghỉ chú, chú giận. Con giành mối của chú, chú cũng giận. Chú không giả bộ là chú không giận. – Ông ngẩng lên. – Nhưng chú coi thằng Đa nhìn con. Chú biết cái nhìn đó. Nó nhìn con như nhìn một món nợ. Nó mắc ba con một mạng người, con Út. Nó trả cả đời không hết. Con gái ông Sáu không nên đi với một thằng chỉ vì nó mắc nợ ba mình.
Ông đội nón lên, quay đi, rồi dừng lại.
– Chú nói vậy thôi. Con muốn tin hay không thì tùy.
Tím không nhớ mình đạp xe về nhà bằng đường nào. Cô chỉ nhớ bó lá chuối khô rớt dọc đường, rớt từng tấm, cô không dừng lại lượm.
Má cô đang ngồi ở hiên, lựa mấy tán đường lỗi bỏ riêng ra. Thấy mặt con, bà để tán đường xuống.
– Má. – Tím nói. – Hôm ba té, anh Đa ở trên cây với ba phải không?
Bà Năm Phụng không quay mặt vô vách. Lần này thì không. Bà nhìn thẳng con gái mình, rất lâu. Rồi bà gật đầu.
– Ai nói với con? Ông Ba hả?
– Má biết từ đầu. Má biết hết mà má không nói với con. – Tím nói, giọng cô run. – Mười lăm năm, má. Con hỏi má bao nhiêu lần ba té làm sao. Má nói ba trượt chân. Ba trượt chân. Ba trượt chân. Có bấy nhiêu đó.
– Ba con trượt chân thiệt.
– Má biết con hỏi gì mà!
Bà Năm nhìn ra ruộng. Mười hai cây thốt nốt đứng đó trong nắng trưa. Mười một cây có cây đòn tre mới. Một cây không.
– Hồi đó con mười hai tuổi. – Bà nói. – Con thương ba con như trời. Ba con đi đâu con theo đó, ba con leo cây nào con ngồi dưới gốc cây đó. Má sợ. Má sợ con biết rồi con ghét thằng nhỏ. Mà thằng nhỏ có tội gì? Nó mười lăm tuổi. Ba nó mới chết ba năm trước. Nó là đàn ông duy nhất trong nhà, má nó, em nó trông vô nó. – Bà ho, đưa tay lên che miệng. – Đám tang ba con, má nó dắt nó qua, hai mẹ con quỳ trước quan tài, không đứng dậy. Má nó nói không ra tiếng Việt, cứ lạy, cứ lạy. Thằng nhỏ thì không khóc. Nó không khóc một giọt. Nó đứng ngoài ruộng, ngay dưới gốc cây số bảy, từ chiều tới tối. Má phải ra kéo nó về.
Tím ngồi xuống bậc thềm. Cô không nói gì.
– Má bắt nó hứa. – Bà Năm nói. – Má nói con Út không được biết. Má nói nó không được nói. Nó hứa. Mười lăm năm, nó giữ lời. Lần này nếu nó nói với con thì là nó làm trái lời má.
– Má bắt anh Đa giữ bí mật với con, má bắt cả xóm giữ bí mật với con. – Tím nói, chậm. – Cả xóm biết, mình con không biết. Má có biết con thấy sao không?
Bà Năm không trả lời. Bà đứng dậy, đi vô nhà. Lần này Tím không biết bà có quay mặt vô vách hay không. Cô cũng không muốn biết.
Chiều đó Đa tới như mọi chiều, sau khi treo ống xong ở hàng cây trong sóc. Anh dựng xe, đi vô lò, thấy Tím ngồi trên ghế đẩu cạnh cái chảo nguội, không nhóm lửa.
Anh dừng lại ở cửa lò. Anh nhìn mặt cô. Tím thấy anh hiểu, ngay lập tức, trước khi cô nói một chữ nào.
– Ông Ba nói với em rồi hả? – Anh hỏi.
– Anh định không bao giờ nói?
Đa đứng yên. Hai tay buông thõng.
– Anh định nói. – Anh nói. – Hôm ở cầu khỉ anh định nói. Tối hôm nấu chảo lớn anh cũng định nói. Rồi anh không nói.
– Tại sao?
– Tại anh hứa với cô Năm.
– Anh hứa với má tui mười lăm năm trước. Lúc đó anh mười lăm tuổi. Giờ anh ba chục tuổi. Anh... – Tím đứng dậy. – Anh hôn tui rồi đó, anh Đa. Anh hôn tui, mà anh vẫn giữ lời hứa với má tui là không cho tui biết cái chuyện lớn nhất đời tui?
Đa không trả lời.
– Anh leo cho tui là trả nợ cho ba tui hả? – Tím hỏi. – Anh nghỉ ông Ba, anh đi mượn cây khắp sóc, anh leo bốn chục cây một ngày, là trả nợ hả? Hôm ở cầu khỉ, anh gỡ cọng rơm trên tóc tui, cũng là trả nợ hả?
Đa mở miệng, rồi ngậm lại. Tím thấy hàm anh nghiến chặt.
– Anh không biết. – Anh nói, rất nhỏ.
Đó là câu trả lời thật nhất anh có thể nói. Tím biết vậy. Nhưng câu trả lời thật nhất đó như một cây kim cắm vô ngực cô.
– Anh không biết. – Cô lặp lại.
– Anh không biết phần nào là nợ, phần nào không. – Đa nói. – Mười lăm năm, Tím. Mỗi lần anh leo một cây thốt nốt, anh nhớ ông Sáu. Mỗi lần anh nhìn em, anh cũng nhớ ổng. Anh không tách ra được. Anh không biết làm sao để tách ra.
– Vậy thì anh về đi. – Tím nói. – Về đi, cho tới khi anh tách ra được.
Đa đứng thêm một lúc. Anh nhìn quanh lò, nhìn cái chảo gang, nhìn mấy khuôn đường trên tấm ni lông, nhìn tấm bìa các tông có con số hai ngàn tám trăm lít dán trên vách. Rồi anh gật đầu, quay ra, dắt xe đạp đi.
Tím đứng trong lò cho tới khi trời tối hẳn. Rồi cô ra hiên. Má cô nằm trên võng, nhưng không ngủ. Hai mẹ con không ai nói với ai câu nào.
Cô nhớ lại buổi sáng hôm đó. Cô nhớ nó rõ hơn cô tưởng. Sáng hôm đó ba không kêu cô dậy. Mọi bữa ba vỗ vô mùng, nói "Út, ra coi ba leo", cô lồm cồm bò dậy, ôm lon sữa bò đựng dế chạy theo. Hôm đó không. Cô ngủ tới khi má kêu dậy đi học. Cô giận ba cả buổi, ngồi trong lớp mà mặt xị xuống, tính về nhà sẽ không thèm nói chuyện với ba.
Mười giờ, cô giáo kêu cô ra ngoài. Ông Tư Hia đứng ở cổng trường, mặt tái mét.
Mười lăm năm nay, cô vẫn nghĩ hôm đó ba không kêu cô vì ba dậy trễ, vì ba vội. Giờ cô mới hiểu. Ba không kêu cô vì hôm đó là ngày thằng học trò thi ra nghề. Ba không muốn có ai đứng dưới gốc làm thằng nhỏ run.
Cô nằm trên chiếc chiếu ở hiên, nhìn lên mái tôn, và lần đầu tiên trong đời cô thấy mừng vì mình đã ngủ quên sáng hôm đó, rồi lại thấy tội lỗi vì đã mừng.
Gần chín giờ, Tím nghe tiếng sột soạt ngoài ruộng. Cô bật đèn pin rọi ra. Không có ai. Chỉ có một con chó hoang chạy ngang bờ ranh.
Sáng hôm sau, bốn giờ, Tím không ra lò. Cô nằm trong mùng, mắt mở, nghe. Không có tiếng xe đạp. Không có tiếng huýt.
Năm giờ rưỡi, cô dậy, đi ra. Lu nước đầy tới miệng. Mấy cái thùng nhựa cũng đầy. Nước thốt nốt còn mát lạnh, còn sủi bọt, như mới đổ vô cách đây không lâu. Ai đó đã tới lúc cô còn nằm, đổ nước, rồi đi, không phát ra một tiếng động nào.
Cô nấu mẻ đường đó một mình, nghe tiếng sôi, nhắc chảo đúng lúc. Mẻ đường ngon. Cô ăn một miếng, vẫn có vị mặn cuối lưỡi.
Sáng hôm sau nữa, lu nước lại đầy.
Sáng ngày thứ ba, Tím ra từ ba giờ, ngồi chờ ngay cạnh lu, quấn mền. Cô sẽ nói gì khi anh tới, cô chưa nghĩ ra. Cô chỉ biết là cô phải ngồi đó.
Bốn giờ. Bốn rưỡi. Năm giờ. Trời bắt đầu sáng.
Không có ai tới. Cái lu khô. Trên mười một cây thốt nốt ngoài ruộng, ống tre treo từ chiều hôm qua vẫn còn đó, nước tràn ra ngoài, chảy thành vệt nâu dọc thân cây, ruồi bu đen.
Má cô từ trong nhà đi ra, đứng sau lưng cô, nhìn cái lu rỗng.
– Nó đi rồi. – Bà nói.
— Hết chương 6 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe