Chương 11: Tiếng huýt trả lời
Ông Ba Quờn không vô nhà. Ông đứng ngoài hiên, từ chối cái ghế Tím kéo ra, từ chối ly trà. Ông hỏi thằng Đa đâu. Tím nói anh ngủ trong buồng, má cô bắt anh nằm lại vì cái chân.
– Để nó ngủ. – Ông Ba nói. – Chú nói với con thôi.
Rồi ông im. Ông nhìn ra ruộng, nơi hàng thốt nốt đứng đen sì dưới bầu trời trong vắt sau cơn giông, sao dày như ai rắc gạo. Cây số bảy giờ có cây đòn tre, ngọn cây trơ ra mấy cái cuống lá gãy.
– Thằng Hưng chú cho nghỉ rồi. – Ông nói. – Cái cửa hàng trên mạng đóng rồi. Mấy hộp giấy in chữ "nguyên chất truyền thống" chú cho thợ dán đè lại hết, mai làm xong.
– Dạ.
– Thằng Tín nó không về nhà. Nó ở nhà bạn nó ngoài Long Xuyên. – Ông Ba nói, giọng không giận, chỉ mệt. – Nó nói đúng. Chú không nói nó sai. Mà chú là ba nó, chú cần ít bữa.
Tím không biết nói gì, nên cô im.
– Út. – Ông Ba quay lại nhìn cô. – Bữa chú kể con nghe chuyện cây số bảy, chú nói thằng Đa nhìn con như nhìn món nợ. Chú nói vậy vì chú biết cái nhìn đó. Chú biết nó, vì chú cũng có.
– Chú?
– Hôm đó chú đứng trên cây ông Tư Hia. – Ông nói chậm. – Chú thấy ong bu ra. Chú thấy thằng nhỏ cứng đơ. Chú cách nó có hai cây. Chú leo nhanh hơn ba con, chú gần hơn ba con. Mà chú không leo qua. Chú đứng đó, ôm cây, nhìn. Chú sợ ong. Ba con ở dưới đất, ổng chạy từ đầu bờ ranh tới, ổng leo lên. Ổng không sợ. Hay ổng sợ mà ổng vẫn leo. Chú không biết.
Gió đêm thổi qua, mát lạnh, mang theo mùi rơm ướt.
– Mười lăm năm nay, – ông Ba nói, – chú làm ăn, chú có lò lớn nhứt vùng, chú nuôi hai chục đứa thợ. Chú nói với mình, chú làm vậy để không ai trong xóm này phải leo cây mà không có ai đỡ. Chú nói vậy hoài, rồi chú tin. – Ông cười, cái cười rất ngắn. – Thằng Đa nó đeo dây. Chú thì pha đường. Mỗi người trả nợ một kiểu. Kiểu của nó coi bộ đàng hoàng hơn kiểu của chú.
Ông đội nón vải lên.
– Nợ của thằng Đa, chú không xóa. – Ông nói. – Nói xóa là chú coi thường nó. Nó trả từ từ, hết mùa sau cũng được, chú không tính lời. Con nói với nó vậy.
– Dạ.
Ông đi ra tới cổng, dừng lại, nói thêm một câu mà không quay đầu:
– Đường của con có vị mặn. Ba con hồi xưa nấu một mẻ, chú có ăn. Cũng mặn y vậy.
Rồi ông nổ máy, chạy đi, để lại Tím đứng ở hiên với ly trà nguội trên tay.
Ba ngày sau, sáng hai mươi tháng Chạp, một chiếc xe tải nhỏ đậu trước cổng nhà bà Năm Phụng. Bốn trăm ký đường thốt nốt, gói từng tán trong lá chuối khô, cột dây gai, xếp trong những thùng giấy có ghi tay một dòng chữ: "Đường Bà Năm – Tri Tôn – không pha".
Chữ là của Sa Ry. Con bé về từ hôm mười tám, nghỉ học sớm ăn Tết, ngồi cả buổi tối viết từng thùng bằng bút lông dầu, viết xấu tới mức Đa ngồi bên cạnh, chân gác lên ghế, chọc nó không ngớt miệng.
– Em viết chữ "không" mà giống chữ "khóc".
– Thì đường này làm bằng nước mắt mà anh. – Sa Ry cãi. – Không khóc sao ra?
Tím đứng nhìn hai anh em cãi nhau, cười tới chảy nước mắt thiệt.
Xe tải chạy rồi, Tím ngồi xuống bậc thềm, nhìn tấm bìa các tông trên vách lò. Con số hai ngàn tám trăm lít bị gạch đi, viết lại, gạch đi, viết lại, chi chít. Dưới cùng, má cô đã cầm bút bi viết thêm một dòng nhỏ, nét chữ run run: "Xong. Ba nó mừng."
Tết năm đó, nhà bà Năm Phụng đông người nhất từ mười lăm năm nay. Má Đa với Sa Ry qua từ ba mươi, ở tới mùng hai. Chú Mười Sấm đạp xe ba chục cây số ra chúc Tết, uống hai ly rượu nếp rồi ngủ quên trên võng. Bà Néang Thi dắt thằng cháu qua, đem theo một mâm bánh tét. Chị Nhạn từ Sài Gòn về, ôm theo một thùng trái cây, ngồi chụp hình cái lò cả buổi. Chiều mùng một, Tín ghé qua, đứng ở cổng, không vô. Tím ra mời, anh lắc đầu, đưa cho cô một hộp mứt gừng, nói của ba anh gửi.
– Ba anh không nói gì hết. – Tín nói. – Ổng chỉ đưa cái hộp, nói "đem qua bên đó".
Tím cầm hộp mứt. Cô hiểu.
Hai bà già ngồi ở hiên nhai trầu, nói chuyện với nhau bằng thứ tiếng nửa Việt nửa Khmer mà Tím không hiểu hết. Nhưng cô nghe được mấy chữ "coi ngày" và "sang năm", và cô thấy Đa đang ngồi ở góc sân đỏ mặt tới mang tai.
Tháng Ba, Đa trả xong món nợ cho ông Ba Quờn. Anh đem tiền lên tận lò, đếm từng tờ trên cái bàn đá. Ông Ba đếm lại, gật đầu, rót cho anh một ly trà. Hai người ngồi uống trà, không ai nói gì, cho tới khi trà nguội.
Một chiều cuối tháng Tư, trời oi, mây đen bắt đầu tụ về phía núi Cấm báo mùa mưa, Đa rủ cô đi dọc chân núi. Hai người dắt xe đạp như cái chiều năm ngoái, tới khúc quanh có cây cầu khỉ thì Đa dừng lại.
– Hôm đó anh chưa nói xong. – Anh nói.
– Nói gì?
– Hôm đó anh tính nói, ông Sáu dạy anh leo hai năm, mà có một chuyện ổng chưa kịp dạy. – Anh nhìn xuống mặt mương, nơi bóng hai người lại chập chờn y như năm ngoái. – Ổng chưa dạy anh làm sao để đứng trước nhà một người mà không phải làm thợ.
Tím không hiểu. Rồi cô hiểu.
– Anh nói vậy là sao?
– Là mùa sau, – Đa nói, mặt đỏ lên, đen nắng mà đỏ lên vẫn thấy, – anh muốn leo cây nhà em mà không ai trả công.
Tím nhìn anh. Anh đứng đó, hai tay đút túi quần, y cái kiểu đứng trước mặt má cô cái sáng đầu tiên, như đứa học trò đi trễ.
– Anh hỏi má em chưa?
– Má anh hỏi rồi. Hồi Tết. – Anh gãi đầu. – Cô Năm nói để hỏi em.
– Vậy giờ anh hỏi em đi.
– Thì anh đang hỏi nè.
– Anh đang nói về cây. – Tím nói. – Anh hỏi em đi.
Đa nhìn cô rất lâu. Rồi anh hỏi. Không có cây nào trong câu hỏi đó.
Tím không trả lời bằng chữ. Cô gỡ một cọng cỏ may vướng trên vai áo anh, như anh từng gỡ cọng rơm trên tóc cô, rồi gật đầu.
Tháng Năm, mưa xuống thật, mùa nấu đường hết. Tím cất chảo, trát lại bếp, chuẩn bị cho mùa sau. Cô đặt thêm hai cái chảo gang nữa. Chị Nhạn nói có ba xưởng bánh nữa hỏi tới. Bà Khuê gọi về, đặt trước sáu trăm ký cho Tết năm sau.
Còn Tím, cả năm đó, cô tập huýt.
Cô tập lúc khuấy chảo, lúc lau lò, lúc đạp xe ra chợ. Lên, xuống, lên dài. Cái tiếng đầu thì dễ. Cái tiếng thứ hai, cô cứ để nó tụt xuống thấp quá, nghe như tiếng còi xe đạp hết hơi. Cái tiếng cuối, kéo dài lên cao, cô chưa lần nào kéo được quá một giây. Má cô nằm trên võng nghe, cười sặc, ho, rồi lại cười. Sa Ry về chơi, nghe cô tập, lăn ra chiếu ôm bụng.
Đa không cười. Lần nào nghe cô tập, anh chỉ đứng nghe, rồi gật đầu, nói "gần rồi". Có lần cô hỏi anh gần rồi là gần cỡ nào. Anh nói, gần bằng từ gốc cây tới mấu thứ năm. Cô kể anh nghe lời ba hứa hồi cô mười hai tuổi. Anh nói anh biết. Hồi đó ông Sáu kể với anh, vừa kể vừa cười, rằng con Út huýt không ra hơi mà ngày nào cũng đòi leo.
Mùng tám tháng Chạp năm sau.
Ba giờ sáng, trời lạnh, gió bấc thổi hiu hiu qua cánh đồng gặt rồi, mùi rơm khô thơm nồng. Tím đứng dưới gốc cây số bảy, khoác cái áo len cũ của ba. Má cô đứng bên cạnh, quấn khăn, tay cầm cái đèn pin. Sa Ry với má Đa đứng ở bờ ranh, hai cái bóng nhỏ xíu trong bóng tối.
Cây đòn tre trên cây số bảy giờ ở đó luôn, không ai gỡ xuống nữa. Mùa này nó cho nước nhiều nhất hàng, ngọt nhất hàng.
Đa đeo sợi dây cam, móc vô thân cây, bật đèn đội đầu, nhìn Tím một cái rồi leo lên. Cô nhìn đốm đèn nhỏ dần, nhỏ dần, lên tới ngọn. Rồi đèn tắt.
Lên. Xuống. Lên dài.
Tiếng huýt vang đi trên cánh đồng, va vô chân núi Cô Tô, dội lại. Tím nghe nó, đứng yên, đếm nhịp tim mình. Rồi anh huýt lần thứ hai. Lên. Xuống. Lên dài.
Tím chụm môi lại.
Tiếng đầu tiên lên, gọn. Tiếng thứ hai xuống, không tụt quá thấp. Tiếng thứ ba, cô dồn hết hơi trong ngực, kéo nó lên, lên cao, run run, mỏng, nhưng dài. Dài hơn một giây. Dài hơn hai giây. Nó bay lên ngọn cây số bảy.
Trên đó, im lặng.
Má cô nắm lấy tay cô. Bàn tay bà lạnh, run.
Rồi từ trên ngọn cây, giọng Đa vọng xuống, khàn khàn, như người vừa khóc mà cố nói cho bình thường:
– Ông Sáu hứa với em cái gì, em còn nhớ không?
Tím ngửa cổ lên. Trời còn tối, sao dày trên đỉnh núi.
– Nhớ.
– Ổng không dạy được. – Đa nói. – Thì anh dạy.
Một đốm đèn bật sáng trên ngọn cây, chiếu thẳng xuống, rọi lên cây đòn tre, từng mấu, từng mấu, tới tận mấu thứ nhất ngay trước mặt cô.
Rồi một sợi dây màu cam thứ hai từ trên ngọn thả xuống, đầu dây lủng lẳng ngay trước mặt cô.
Tím nhìn má. Bà Năm Phụng nhìn con gái một hồi lâu. Rồi bà cầm đầu dây, vòng qua hông con, thắt một cái nút thật chặt, cái nút buộc đòn ba mươi năm trước chồng bà dạy, giật thử hai lần. Rồi bà buông tay ra.
Tím đặt chân lên mấu thứ nhất.
— Hết —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe