Chương 4: Nhà sàn dưới chân núi
Bốn trăm ký là hai ngàn tám trăm lít nước.
Tím viết con số đó lên tấm bìa các tông, dán lên vách lò. Bên dưới cô chia ra: mười một cây, mỗi sáng sáu chục lít, bốn mươi bảy ngày. Từ giờ tới hai mươi tháng Chạp còn chưa tới bốn mươi ngày. Mà một trăm ký cho chị Nhạn cũng chưa xong.
Cô gạch con số bốn mươi bảy, viết lại: cần thêm cây.
Bà chủ xưởng bánh tên Lư Bảo Khuê, hẹn tuần sau xuống. Chị Nhạn kể bà Khuê bốn mươi lăm tuổi, làm bánh hai chục năm, nổi tiếng khó, từng trả lại nguyên một xe dừa sấy vì phát hiện có tẩm đường hóa học. "Bả mà gật đầu thì mày khỏi lo bán, Tím. Bả mà lắc đầu thì cả giới làm bánh Sài Gòn biết."
Tím đem tấm bìa ra cho Đa coi lúc anh đổ nước vô lu.
– Cần thêm cây. – Anh đọc, gật gù. – Xóm anh có nhiều nhà có cây mà không ai leo. Người già hết rồi, con cháu lên Sài Gòn làm công ty. Để anh hỏi.
– Anh hỏi rồi ai leo?
Đa không trả lời câu đó. Anh nhìn tấm bìa thêm một lúc.
Chiều hôm đó Tím ra chợ Tri Tôn mua dây gai với lá chuối khô để gói đường. Chợ chiều đông, mùi khô cá lóc, mùi bánh bò thốt nốt hấp, mùi nhang trầm từ một sạp đồ cúng. Cô đang trả giá bó lá chuối thì thấy Đa.
Anh đạp xe đạp ngang qua đầu chợ, phía sau chở một cô gái. Cô gái tóc dài cột đuôi ngựa, áo khoác jean, ôm cái ba lô to, một tay nắm vạt áo Đa, đầu nghiêng nghiêng nói gì đó làm anh cười lớn. Cái cười lớn, rõ tiếng, chứ không phải cái cười nhanh anh hay cười với cô.
Tím đứng đó, bó lá chuối trên tay, nhìn theo cho tới khi chiếc xe đạp khuất sau dãy sạp trái cây.
– Hai chục ngàn nghen con. – Bà bán lá chuối nói.
– Dạ.
Cô trả ba chục, không lấy tiền thối, đi về.
Tối đó cô nấu chảo đường mà khuấy mạnh tay tới mức cái vá gỗ va vô thành chảo nghe cành cạch. Má cô nằm trên võng nghe một hồi, hỏi:
– Con giận ai?
– Con có giận ai đâu.
– Khuấy vậy là giận. – Bà nói. – Ba con hồi xưa cũng vậy. Giận má là ổng đi bổ củi. Bổ từ chiều tới tối.
Tím ngừng khuấy. Cô không biết ba cô từng giận má. Trong trí nhớ của cô, ba cô chỉ có cười.
Sáng hôm sau là ngày trả tiền công tháng đầu. Tím đếm tiền bỏ vô bao thư, trừ đi ba phần mười cho ông Ba Quờn, còn lại bốn triệu hai. Đa đem nước tới, đổ vô lu, rồi đi liền, như mấy hôm trước. Cô cầm bao thư đứng ở hiên, không gọi theo.
Trưa, cô đạp xe vô sóc.
Sóc của Đa nằm sát chân núi, nơi con đường đất đỏ chia làm mấy nhánh nhỏ chạy giữa những hàng thốt nốt và những bụi tre gai. Nhà cửa thưa thớt, có nhà sàn gỗ, có nhà tường mới xây sơn vàng. Gà chạy đầy đường. Một đám con nít ngồi dưới gốc me chơi bắn bi, thấy người lạ, ngó trân trân.
– Nhà anh Đa leo thốt nốt ở đâu em?
Một đứa chỉ tay. Một căn nhà sàn cũ, cột gỗ thâm đen, mái lợp tôn đã ngả màu, dưới gầm có treo mấy bó ống tre, mấy cây đòn, một cái võng. Ngoài sân có giàn bầu, mấy chậu sả, một lu nước to.
Một bà cụ ốm nhom ngồi dưới gầm sàn, đang chẻ lạt. Thấy Tím, bà đứng dậy, nheo mắt nhìn.
– Dạ con chào bà. Con là Tím, con bà Năm Phụng bên...
– Con ông Sáu. – Bà cụ nói liền, giọng lơ lớ. – Biết. Biết. Lên nhà, lên nhà.
Bà là má của Đa. Tím lên những bậc thang gỗ mòn nhẵn, vô gian nhà sàn rộng, mát, thơm mùi gỗ và mùi khói bếp. Trên vách treo một tấm hình đen trắng của một người đàn ông trẻ, gương mặt giống Đa như đúc. Ba của Đa, mất từ hồi anh mười hai tuổi, bị điện giật khi đi làm thuê ở Sài Gòn. Má Đa nói vậy, bằng một câu ngắn, như đọc ngày tháng trên lịch.
Rồi từ buồng trong, cô gái tóc đuôi ngựa hôm qua bước ra, tay cầm cái điện thoại.
Tím đứng dậy, không biết để tay vô đâu.
– Chị Tím! – Cô gái reo lên. – Chị là chị Tím phải hông? Trời ơi, chị đẹp hơn trong hình. Em là Sa Ry, em gái anh Đa. Em coi trang bán hàng của chị Nhạn hoài, em nhận ra liền.
– Em... gái?
– Dạ. Em học năm nhất điều dưỡng ở Cần Thơ. Hôm qua em về, anh Đa ra bến xe rước em, chở ngang chợ. – Sa Ry nói một hơi, rồi nheo mắt nhìn Tím, cười ranh mãnh. – Mà sao chị nhìn em giống nhìn kẻ thù vậy chị?
Tím đỏ mặt tới mang tai.
– Đâu có. Chị... chị mới đạp xe xa, mệt.
– Dạ. – Sa Ry cười, không tin chữ nào.
Đa về lúc gần hai giờ, sau ca leo buổi sáng và giấc ngủ trưa ở lò ông Ba. Thấy Tím ngồi trong nhà mình, ăn chè chuối nước cốt dừa với má và em gái mình, anh đứng chết trân ở chân cầu thang.
– Anh Đa. – Sa Ry kêu. – Chị Tím tưởng em là bồ anh. Chị giận tới đạp xe vô đây đánh ghen.
– Sa Ry! – Tím kêu lên.
– Em giỡn mà. – Sa Ry cười rũ, ôm chén chè chạy xuống gầm sàn.
Đa leo lên, ngồi xuống chiếu, cách Tím một khoảng. Anh gãi đầu.
– Nó nói bậy đó. Em đừng để ý.
– Ừ. – Tím nói, rồi lấy bao thư ra đặt lên chiếu. – Tiền công tháng đầu. Tui trừ phần ông Ba rồi.
Đa nhìn bao thư, không cầm.
– Em đưa má anh đi.
Tím đưa cho bà cụ. Bà cầm, không mở, đem cất vô một cái hộp thiếc trên kệ thờ.
Rồi Tím biết chuyện món nợ. Không phải từ Đa. Từ Sa Ry, lúc hai chị em đứng rửa chén dưới gầm sàn.
Ba chục triệu. Đó là tiền học phí năm đầu với tiền ký túc xá, tiền sách vở, tiền mua đồng phục, đồ thực hành. Đa ứng của ông Ba Quờn từ tháng Tám, hẹn trả bằng công leo hai mùa. Trước đó anh đã bán chiếc xe máy cũ, giờ đi bằng chiếc xe đạp của ba để lại. Mỗi tháng anh gửi lên Cần Thơ cho em một triệu rưỡi tiền ăn. Còn lại anh đưa má.
– Em nói đi làm thêm, ảnh không cho. – Sa Ry nói, kỳ cái chén thật mạnh. – Ảnh nói học điều dưỡng cực lắm, đi làm thêm là học không nổi. Ảnh nói nhà mình có một người leo cây là đủ rồi. Chị biết hông, hồi nhỏ em cũng đòi leo, ảnh đánh đòn em. Ảnh chưa đánh em bao giờ, trừ lần đó.
Chiều, Đa đưa Tím về, anh đi bộ dắt xe đạp, cô dắt xe đạp của cô. Con đường đất đỏ dọc chân núi vắng tanh. Mặt trời lặn sau núi Cô Tô, ánh nắng cuối ngày chiếu nghiêng qua những hàng thốt nốt, bóng cây đổ dài trên ruộng như những cây kim khổng lồ.
– Sao anh đeo dây? – Tím hỏi. – Ba tui hồi đó đâu có đeo. Tui thấy mấy thợ leo bên lò ông Ba cũng đâu có ai đeo.
Đa đi thêm mấy bước.
– Anh nhát.
– Xạo.
– Thiệt. – Anh nói. – Leo ba chục cây một buổi, mỗi cây mười lăm mét. Một buổi sáng đã bốn trăm năm chục mét. Mười buổi là bằng leo lên đỉnh núi Cấm sáu lần. Không đeo dây thì sớm muộn gì cũng có một lần sẩy chân. Một lần là đủ.
– Vậy sao người ta không đeo?
– Đeo thì leo chậm. Leo chậm thì ít cây. Ít cây thì ít tiền. – Anh nhún vai. – Anh bắt mấy đứa nhỏ mới vô nghề bên lò ông Ba đeo. Có đứa nghe, có đứa không.
Hai người đi tới khúc quanh, nơi con đường chạy ngang qua một cái mương nhỏ có cây cầu khỉ bắc ngang. Đa dừng lại, dựng xe.
– Tím.
Đó là lần đầu tiên anh gọi cô là Tím, không có chữ "Út", không có chữ "em".
– Gì?
– Hồi hôm qua em giận anh thiệt hả?
Tím không trả lời. Cô nhìn xuống mặt nước mương, thấy bóng hai người trong đó, chập chờn.
– Ừ. – Cô nói. – Giận thiệt.
Đa im lặng. Rồi anh đưa tay ra, rất chậm, như sợ cô giật mình, gỡ một cọng rơm vướng trên tóc cô. Ngón tay anh chai sần, có mùi khói và mùi nước thốt nốt.
Tím nhìn lên. Anh đứng gần quá. Gần tới mức cô thấy được vết sẹo nhỏ trên cằm anh, thấy được hàng lông mi thẳng đuột của anh.
Điện thoại trong túi Đa reo.
Anh giật mình, lùi lại một bước, móc điện thoại ra. Tím thấy tên trên màn hình: "Ông Ba".
– Dạ, con nghe.
Tím không nghe được bên kia nói gì. Cô chỉ thấy mặt Đa thay đổi, từ ngượng ngùng sang cứng lại, như một khúc gỗ ngâm nước lâu ngày. Anh nghe một hồi, chỉ nói "dạ", "dạ", "dạ con biết", rồi tắt máy.
– Gì vậy anh?
– Ông Ba kêu anh lên lò. – Anh nói, giọng bình thường, nhưng mắt không nhìn cô. – Ổng nói có chuyện gấp.
– Chuyện gì?
– Anh chưa biết. – Anh dựng xe đạp lên. – Em về trước đi. Trời tối rồi.
Tím đạp xe về một mình. Tới nhà, cô ngồi ở hiên chờ. Chín giờ, mười giờ, mười một giờ. Trên mười một cây thốt nốt ngoài ruộng, ống tre đã được treo từ chiều, đèn đội đầu không thấy, tiếng huýt cũng không.
Bốn giờ sáng, cô thức dậy, chạy ra ruộng.
Không có ai. Không có đốm đèn nào. Không có tiếng xe đạp cót két. Năm giờ, rồi năm rưỡi, rồi sáu giờ. Trời sáng hẳn. Mười một cây thốt nốt đứng đó, ống tre đầy nước treo lủng lẳng trên ngọn, không ai lấy xuống.
Sáu giờ mười lăm, điện thoại cô rung. Một tin nhắn từ số của Đa, ngắn ngủn:
"Ông Ba cấm anh leo cho em. Từ hôm nay. Anh xin lỗi."
— Hết chương 4 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe