Chương 8: Ngày giỗ ba
Sa Ry ngồi trên bậc thềm, hai tay ôm ly trà gừng Tím vừa pha, kể bằng cái giọng của đứa con gái mười tám tuổi đã nhịn quá lâu.
– Từ hồi em biết nhớ, năm nào cũng vậy. – Con bé nói. – Đêm mùng bảy tháng Chạp, anh Đa không ngủ. Ảnh ngồi dưới gầm sàn vót tre, vót tới ba giờ sáng. Rồi ảnh vác tre ra đây. Ra cây số bảy nhà chị. Ảnh buộc đòn, leo lên, huýt ba tiếng, rồi leo xuống, gỡ đòn, vác tre về. Không lấy một giọt nước. Mười lăm năm, chưa bỏ năm nào. Năm ảnh bị sốt xuất huyết, nằm truyền dịch ở trạm y tế, tới khuya ảnh rút kim trốn ra, má em chạy theo không kịp.
Tím ngồi im. Cô cầm ly trà của mình mà không uống.
– Hồi nhỏ em hỏi ảnh làm vậy chi. – Sa Ry nói. – Ảnh nói để ông Sáu biết ảnh còn leo. Em hỏi ông Sáu chết rồi, biết sao được. Ảnh nói thì cứ leo, biết hay không là chuyện của ông Sáu.
– Má chị biết không?
– Cô Năm biết. – Sa Ry nhìn vô nhà, nơi bà Năm đang ngủ, hay giả bộ ngủ. – Năm nào cô cũng biết. Em nghĩ cô thức. Em nghĩ cô nằm trong nhà nghe ảnh huýt. Nhưng cô không bao giờ ra.
Tím nhớ cái đêm cô với má thấy cây đòn mới trên cây số bảy, má cô run tay rờ từng sợi dây mây. Cô nhớ má cô hỏi "đứa nào dám", rồi khi thấy là Đa, bà dịu xuống. Bà dịu xuống vì bà biết tay buộc đó. Mười lăm năm, mỗi năm một lần, bà biết cái tay buộc đó.
– Mấy năm đầu, – Sa Ry nói tiếp, giọng nhỏ lại, – chị còn nhỏ, ba giờ sáng chị ngủ say. Rồi chị đi Long Xuyên học, đi làm. Mười lăm năm chị không nghe một lần. Không ai thấy ảnh leo hết, trừ cô Năm nằm trong nhà. Mà cô Năm cũng không thấy, chỉ nghe. Chị nói coi, trả nợ mà không ai thấy thì trả cho ai?
Tím đặt ly trà xuống.
– Anh Đa nói với em, – Sa Ry nói, – ảnh không biết phần nào là nợ, phần nào không. Em nói ảnh ngu. Em nói ảnh mười lăm năm leo cái cây đó lúc ba giờ sáng mà không ai coi, đó không phải là nợ, đó là thương. Thương ông Sáu. Thương nhà chị. Rồi giờ thương chị. Mà ảnh không biết. Đàn ông gì mà ngu.
Con bé uống hết ly trà, đứng dậy.
– Đêm nay ảnh về. – Sa Ry nói. – Ảnh nói với em, đi đâu thì đi, đêm mùng bảy phải về. Em về trước, để nói chị nghe. Chị muốn làm gì thì làm. Em nói xong rồi, em nhẹ người.
Con bé dắt xe ra cổng, rồi quay lại, nói thêm một câu:
– Mà chị đừng nói với ảnh là em nói nghen. Ảnh đánh em đó.
– Ảnh có đánh em bao giờ đâu.
– Có một lần. – Sa Ry cười, nổ máy. – Lần em đòi leo cây.
Tím không ngủ lại. Cô ngồi ở hiên, rồi đi vô lò, ngồi trên ghế đẩu cạnh chảo nguội, kéo cánh cửa lò khép hờ. Từ đó nhìn qua khe cửa, cô thấy được cả hàng thốt nốt ngoài ruộng. Trăng mùng bảy đã lặn từ trước nửa đêm, chỉ còn ánh sao, đủ để thấy những thân cây đen đứng thẳng trên nền trời xám.
Một giờ. Hai giờ. Gà trong xóm gáy lần đầu. Sương xuống ướt cả mái tôn, nhỏ giọt tí tách.
Hai giờ bốn mươi, một đốm đèn đội đầu hiện ra ở cuối con đường đất đỏ, lắc lư, chậm. Không có tiếng xe đạp. Anh đi bộ, vác trên vai một bó tre dài.
Tím nín thở.
Đa đi tới bờ ranh, đặt bó tre xuống dưới gốc cây số bảy. Anh đứng đó một lúc, nhìn lên ngọn cây. Rồi anh quay lại, đi về phía cái cọc rào, lấy sợi dây cam vắt trên đó xuống. Anh cầm sợi dây trong tay, nhìn nó, rồi nhìn về phía nhà Tím tối om. Tím thấy anh đứng như vậy rất lâu, lâu tới mức cô tưởng anh sẽ đi tới gõ cửa.
Anh không đi tới. Anh quay lại gốc cây, bắt đầu buộc đòn.
Tím chưa bao giờ thấy ai buộc đòn nhanh như vậy. Từng khúc tre đã được vót sẵn, đục sẵn mấu, đầu khúc này lồng vô đầu khúc kia. Anh buộc một khúc ở dưới, leo lên mấu cuối, buộc khúc tiếp theo, rồi leo lên khúc đó, buộc tiếp. Dây mây trong miệng, cây dao giắt sau lưng quần, đèn đội đầu rọi một vòng tròn nhỏ trên thân cây đen. Tay anh di chuyển như không cần nhìn, như đã làm điều này hàng trăm lần trong bóng tối.
Mười lăm lần. Cô nghĩ. Mỗi năm một lần. Mười lăm lần trong bóng tối.
Hai chục phút sau, anh tới ngọn. Đèn đội đầu tắt. Cả hàng cây chìm vô bóng đêm, chỉ còn bóng đen của tàu lá in trên nền trời đầy sao.
Rồi tiếng huýt.
Lên. Xuống. Lên dài.
Tiếng huýt vang đi trên cánh đồng gặt, va vô chân núi Cô Tô, dội lại. Tím ngồi trong lò, hai tay bịt miệng. Cô khóc, không ra tiếng. Cô khóc như hồi mười hai tuổi, cái ngày cô đứng ở cổng trường thấy mặt ông Tư Hia, cô biết, trước cả khi ai nói, rằng sẽ không bao giờ có tiếng huýt nào nữa.
Mà có. Mười lăm năm nay vẫn có. Chỉ là cô chưa từng nghe.
Cánh cửa lò kẹt một tiếng. Tím giật mình quay lại. Má cô đứng đó, khoác cái áo len cũ của ba, chân không. Bà không nói gì, chỉ bước vô, ngồi xuống cái bậc đất bên cạnh con, nhìn ra khe cửa.
Trên ngọn cây số bảy, anh huýt thêm một lần nữa. Lên. Xuống. Lên dài.
– Năm nào nó cũng huýt hai lần. – Bà Năm nói khẽ. – Một lần cho ba con. Một lần cho con. Năm đầu tiên má hỏi nó, nó nói nó huýt thay ông Sáu cho con Út nghe. Má nói con Út ngủ say, nghe gì được. Nó nói thì cứ huýt.
Tím lau mặt bằng tay áo.
– Má. Đêm trước hôm đó, ba có nói gì không?
Bà Năm im một hồi.
– Ba con nói, thằng Đa có cái chân biết nghe cây. – Bà nói. – Ổng nói, mai cho nó leo cây số bảy, nó leo được thì ổng có người truyền nghề. Ổng nói con Út thì ổng không cho leo đâu, con gái leo cây cực lắm, ổng chỉ hứa để con vui. Ổng nói ổng sẽ dạy con nấu đường thay.
– Ba nấu đường có một mẻ mà.
– Thì ổng tính học lại. – Bà Năm cười, cái cười rất nhẹ. – Ba con cái gì cũng tính.
Hai mẹ con ngồi im, nhìn đốm đèn đội đầu bật sáng lại trên ngọn cây, bắt đầu từ từ đi xuống.
– Út. – Bà Năm nói. – Ông Ba nói đúng một nửa. Thằng Đa mắc nợ ba con. Nhưng ba con không đòi. Ba con leo lên cây là ba con chọn leo lên. Không ai bắt ổng. Mà nếu ổng còn sống, ổng sẽ chửi má một trận vì đã bắt thằng nhỏ hứa cái điều đó. – Bà ngừng, rồi nói tiếp, chậm. – Má sai. Mười lăm năm. Má xin lỗi con.
Tím nắm tay má. Bàn tay bà gầy, lạnh, chai sần vì ba mươi năm cầm vá gỗ.
Đa leo xuống tới đất, bắt đầu gỡ đòn. Tím đứng dậy, đẩy cửa lò, đi ra.
Anh đang tháo nút mây ở khúc thứ ba từ dưới lên, nghe tiếng chân, quay lại. Đèn đội đầu rọi thẳng vô mặt cô. Anh vội vàng tắt đèn.
Hai người đứng đó trong bóng tối, cách nhau năm bước. Giống y cái sáng đầu tiên anh tới gỡ đòn, đứng trước mặt má cô như đứa học trò đi trễ.
– Em nghe hết rồi. – Tím nói.
– Ai nói với em?
– Không ai hết. – Cô nói dối, vì Sa Ry. – Em ngồi trong lò từ một giờ.
Đa đứng im. Cô nghe tiếng anh thở.
– Anh Đa. Mười lăm năm anh leo cây này không ai thấy. Đó không phải trả nợ. Trả nợ thì phải có người nhận.
– Tím...
– Anh về đi. – Cô nói. – Không phải về sóc. Về đây. Lò cần người leo. Em cần người leo. – Cô ngừng lại, rồi nói thêm, vì nếu không nói bây giờ thì cô sẽ không bao giờ nói. – Em cần anh.
Trong bóng tối, cô không thấy được mặt anh. Cô chỉ thấy cái bóng của anh đứng yên rất lâu, rồi gật đầu.
– Cho anh một ngày. – Anh nói, giọng khàn đặc. – Anh phải lên Châu Đốc trả lán, lấy lương. Tối anh về.
Anh gỡ đòn xong, bó tre lại, vác lên vai. Đi được mấy bước, anh quay lại, vắt sợi dây cam trở lại lên cái cọc rào, như đánh dấu chỗ mình sẽ quay về.
Trưa đó, mâm giỗ ông Sáu Lộc có thêm hai người. Má Đa đi bộ từ trong sóc ra, tay xách một giỏ chuối với một chục bánh tét lá cẩm, Sa Ry đi sau. Bà cụ đứng ở cổng rất lâu, không bước vô. Bà Năm phải ra tận cổng dắt tay bà vô. Hai bà già đứng trước bàn thờ, một người thắp nhang, một người chắp tay lạy kiểu sóc, miệng lầm rầm tiếng Khmer. Tím đứng sau lưng hai bà, nhìn tấm hình ba cô cười trên bàn thờ, và lần đầu tiên cô thấy nụ cười đó không còn là nụ cười của một người đã mất. Nó là nụ cười của một người đang chờ coi chuyện gì xảy ra tiếp theo.
Chiều hôm đó, sau khi cúng giỗ xong, Tím gọi cho Đa để hỏi anh về tới đâu. Máy tắt. Cô gọi lại, vẫn tắt. Chắc hết pin, cô nghĩ. Chắc đang trên xe.
Năm giờ chiều, điện thoại cô reo. Không phải Đa. Bà Khuê.
– Tím. – Giọng bà Khuê lạnh như nước đá. – Tuần trước có người gửi tới xưởng tôi một gói đường, ghi "Đường Bà Năm – Tri Tôn", kèm một lá thư không ký tên, nói đường của em có pha đường mía. Tôi cho người đặt mua thêm hai gói nữa trên mạng, cũng tên Đường Bà Năm, cũng hình anh thợ leo của em, đựng hộp giấy in hình cây thốt nốt. Tôi gửi cả ba gói đi kiểm nghiệm. Chiều nay có kết quả sơ bộ: có đường mía. Em giải thích cho tôi nghe đi.
— Hết chương 8 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe