Chương 4: Lồng đèn đường Lương Nhữ Học
Thư của ban trọng tài thành phố tới vào sáng thứ Hai, lúc Ý Lan đang thổi còi cho lớp bảy chạy bốn vòng sân trường.
Cô đọc nó dưới gốc phượng, mồ hôi nhỏ xuống màn hình điện thoại. Hồ sơ xin dự tuyển lớp trọng tài giải hạng Ba của cô đã qua vòng giấy tờ. Vòng tiếp theo là đánh giá thực tế: một giám sát viên sẽ tới xem ba trận cô bắt ở giải phong trào, không báo trước là người nào, chỉ báo trước trận nào. Chấm điểm vị trí đứng, tốc độ quyết định, cách xử lý cầu thủ, cách ghi biên bản. Ba trận đều đạt thì vào lớp tập huấn. Một trận không đạt thì chờ năm sau.
Cô đã nộp hồ sơ ba lần. Hai lần trước trượt vòng giấy tờ vì thiếu số trận ở giải có tổ chức. Lần này cô đã bắt đủ một trăm hai mươi trận, ghi chép đủ, có thư giới thiệu của anh Lựu.
Cô đọc lại lá thư ba lần, rồi bỏ điện thoại vào túi, thổi còi gọi lớp bảy về. Mấy đứa học trò thấy cô cười một mình, xì xào với nhau là cô có bồ.
– Có bồ cái đầu tụi bây, – cô nói. – Chạy thêm một vòng.
Chủ nhật đó, Vĩnh Bân nghỉ vì đủ ba thẻ vàng. Anh ngồi trên khán đài cạnh ba cô, hai người đàn ông đội hai cái nón cam, mỗi người ngậm một cái khăn. Ý Lan đứng giữa sân, liếc lên một lần, thấy cảnh đó, phải quay mặt đi để khỏi bật cười.
Đội Đồng Hồ thua ba hai. Lần đầu tiên họ ghi được hai bàn trong một trận. Cả hai bàn đều của Bửu. Lần thứ hai Bửu ghi bàn, thằng nhỏ chạy thẳng tới sát vạch biên dưới khán đài, chỉ tay lên chỗ hai cái nón cam. Ba cô nhổ cái khăn ra, chỉ tay lại. Vĩnh Bân thì vẫn ngậm khăn, chỉ vỗ tay hai cái.
Sau trận, chú Tư đi ngang qua cô, nói nhỏ:
– Cô trọng tài biết hông, thằng Bân nó ngồi trên đó mà chân nó cứ đá theo. Ba cô phải giữ đầu gối nó lại.
Thứ Tư, cái đồng hồ bấm giây của tổ thể dục bị hư. Đó là một cái đồng hồ bấm giây cơ, đời cũ, mặt to bằng lòng bàn tay, tổ thể dục dùng từ hồi cô còn chưa về trường. Học trò lớp chín làm rớt nó xuống bậc cầu thang. Nó vẫn chạy, nhưng bấm dừng không dừng, bấm về không về. Tuần sau là đợt kiểm tra chạy sáu mươi mét cho cả khối.
Thầy tổ trưởng bảo mua cái điện tử cho xong. Ý Lan bảo cái điện tử ở trường đã có hai cái, cái nào cũng hư nút sau ba tháng, còn cái cơ này chạy hai mươi năm rồi. Cuối cùng cô xin tiền quỹ tổ đem đi sửa.
Cô chạy xe ngang qua ba tiệm sửa đồng hồ ở gần trường. Một tiệm bảo không sửa đồ cơ. Một tiệm bảo hết linh kiện. Một tiệm mở nắp ra coi rồi đóng lại, lắc đầu. Cô ngồi trên xe, nhìn cái đồng hồ bấm giây trong tay một lúc lâu, rồi quay đầu xe về phía chợ Kim Biên.
– Đây là dịch vụ, – cô nói, đặt cái đồng hồ lên tấm nhung xanh. – Trường tôi trả tiền. Có hóa đơn. Không phải quà.
– Dạ, – Vĩnh Bân nói, kéo kính lúp xuống mắt. – Dịch vụ.
Anh mở nắp lưng ra trong mười giây. Cô chưa thấy ai mở nắp đồng hồ nhanh như vậy.
– Cái cần bấm bị cong, cái lò xo hồi bị lệch. Hai trăm tám chục nghìn. Thứ Sáu lấy.
– Thứ Sáu tôi dạy cả ngày.
– Vậy thứ Sáu tôi đem tới trường cô. Phí giao hàng không tính, vì tiệm tôi không có dịch vụ giao hàng.
Cô định từ chối. Rồi cô nghĩ tới ba mươi mấy đứa học trò lớp chín và cái bài kiểm tra chạy.
– Bốn giờ chiều, – cô nói. – Cổng sau trường.
Bốn giờ chiều thứ Sáu, anh tới cổng sau trường, mặc sơ mi kẻ ô, cái đồng hồ bấm giây gói trong một miếng vải nhung xanh. Cô ra nhận thì đám học trò lớp chín đang tập đá cầu ở sân sau đã thấy. Chỉ trong vòng một phút, ba mươi đứa vây quanh cổng.
– Cô ơi, chú này là ai vậy cô?
– Chú này sửa đồng hồ bấm giây cho lớp mình.
– Chú sửa sao vậy chú? Chú chỉ tụi con đi!
Cô định đuổi tụi nhỏ về. Nhưng Vĩnh Bân đã ngồi xuống bậc thềm, mở nắp lưng cái đồng hồ bấm giây ra, đưa cho tụi nhỏ coi.
– Đây là cái bánh xe cân bằng, – anh nói. – Nó đập qua đập lại. Mỗi lần nó đập là một tích tắc. Cái này mà hư thì đồng hồ chạy sai. Đứa nào muốn nghe nó thì áp sát tai vô, đừng thở mạnh.
Ba mươi đứa học trò lớp chín, đứa nào cũng ngổ ngáo, cũng mê điện thoại, xếp hàng từng đứa một áp tai vào cái đồng hồ bấm giây cũ. Đứa nào nghe xong cũng tròn mắt.
– Nó kêu như tim đập cô ơi!
– Chú ơi, sao chú biết nó hư chỗ nào? Chú có máy đo hả chú?
– Chú nghe, – anh nói. – Đồng hồ hư thì tiếng nó kêu khác. Giống như người ta bệnh thì giọng người ta khác.
Thằng Tèo lớp chín A, đứa phá nhất trường, đứa cô bắt chạy phạt nhiều nhất, áp tai vào đồng hồ lâu nhất. Nó ngước lên hỏi:
– Chú ơi, con học sửa đồng hồ được hông?
– Được. Mà phải ngồi im được một tiếng.
– Vậy thôi chú.
Cả đám cười rần. Ý Lan đứng dựa vào cánh cổng sắt, khoanh tay, nhìn anh ngồi giữa đám học trò của cô, kính lúp còn treo lủng lẳng trên túi áo. Cô không biết mình đã đứng đó bao lâu. Cô chỉ biết là khi tiếng trống tan học vang lên, cô giật mình, như người vừa ngủ quên.
Cô trả anh hai trăm tám chục nghìn tiền mặt, lấy hóa đơn viết tay, kẹp vào sổ.
– Cảm ơn anh. Thay mặt tổ thể dục.
– Không có chi. Thay mặt tiệm đồng hồ.
Anh đi ra cổng, rồi quay lại.
– Tối Chủ nhật này là rằm tháng Tám. Mấy chú trong đội làm lồng đèn cho con nít trong xóm, rồi dắt tụi nhỏ ra đường Lương Nhữ Học coi lồng đèn. Ba cô nói ông đi. Ông kêu tôi nói với cô là ông muốn cô đi chung.
– Ông kêu anh nói?
– Ông nói nếu ông nói thì cô không đi.
Cô nghĩ một chút. Ba cô hiểu cô quá. Mà cô cũng hiểu ba cô: ông không bao giờ nhờ ai nói giùm, trừ khi ông muốn người đó có cớ nói chuyện với cô.
– Có cả đội?
– Cả đội. Có con nít. Có lồng đèn. Không có bóng đá.
– Vậy tôi đi.
Nói xong cô mới thấy mình vừa làm một việc ba cô từng dặn không được làm: đi chung với người của một đội bóng giữa mùa giải. Cô tự nhủ đây không phải đội bóng. Đây là một đám con nít với mấy cái lồng đèn.
Tối rằm, đường Lương Nhữ Học sáng rực từ đầu tới cuối. Hai bên vỉa hè treo kín lồng đèn: lồng đèn ông sao giấy kiếng đỏ, lồng đèn cá chép, lồng đèn con thỏ, lồng đèn kéo quân xoay chầm chậm. Người chen nhau đi, xe máy dắt bộ, con nít ngồi trên vai ba mẹ, tiếng trống lân thùng thùng ở đầu đường. Mùi bánh nướng, mùi sáp nến, mùi bắp nướng mỡ hành trộn lẫn vào nhau.
Đội Đồng Hồ dắt theo mười một đứa nhỏ, con cháu của mấy tiệm trên đường Trần Hưng Đạo. Đứa nào cũng cầm một cái lồng đèn ông sao do chú Bảy Mập với anh Hên dán. Chú Tư cầm một cái lồng đèn cá chép to bằng cái thau, đi trước dẫn đường. Ba cô đi giữa, nắm tay hai đứa nhỏ nhất, kể cho tụi nó nghe chuyện thằng Cuội như thể ông là người quen với thằng Cuội.
Ý Lan đi phía sau cùng với Vĩnh Bân, nhiệm vụ của hai người là đếm con nít. Mười một đứa. Cứ đi chừng chục mét, cô lại đếm. Mười một.
– Cô đếm hay quá, – anh nói. – Như đếm cầu thủ trước khi giao bóng.
– Thói quen.
– Tôi có một câu muốn hỏi cô. Không phải về luật.
– Anh hỏi.
– Cô làm trọng tài, ngày nào cũng có người chửi cô. Thua thì chửi, thắng cũng chửi. Sao cô vẫn làm?
Cô nghĩ một lúc. Đám đông đẩy hai người sát lại gần nhau. Có một chiếc xe máy dắt ngang, cô phải nghiêng người tránh, vai cô chạm vào vai anh.
– Hồi nhỏ, ba tôi dẫn tôi đi coi ông bắt một trận, – cô nói. – Hai đội đánh nhau ở phút cuối. Cả sân la ó. Ba tôi đứng giữa, không la, không chạy, chỉ giơ tay lên. Rồi từng người, từng người dừng lại. Tôi ngồi trên khán đài nghĩ: ông không có súng, không có roi, ông chỉ có cái còi với cái đồng hồ, mà hai mươi hai người đàn ông dừng lại nghe ông. Tôi muốn làm được như vậy.
Anh không nói gì. Họ đi thêm một đoạn. Cô quay lại đếm con nít. Mười.
Cô đếm lại. Mười.
– Thiếu một đứa, – cô nói.
Anh quay phắt lại. Cả hai cùng nhìn ngược về phía đám đông, một biển người với một biển lồng đèn. Cô thấy tim mình đập nhanh hơn lúc bắt trận khó nhất. Rồi anh chỉ tay.
– Kia.
Thằng Bin, cháu nội chú Bảy Mập, năm tuổi, đang đứng dán mặt vào một tiệm bán lồng đèn kéo quân, không nhúc nhích. Ý Lan chạy tới, ngồi xuống, nắm tay nó. Nó không sợ, cũng không khóc, chỉ chỉ vào cái lồng đèn kéo quân đang quay, những cái bóng ngựa và người lính chạy vòng vòng trên vách giấy.
– Cô ơi, sao mấy con ngựa chạy hoài mà không tới?
Cô không biết trả lời sao. Vĩnh Bân ngồi xuống bên cạnh.
– Tại nó đang chạy theo nhau đó con, – anh nói. – Con ngựa trước chờ con ngựa sau. Chạy tới thì mất bạn.
Thằng Bin gật gù như hiểu. Cô nhìn anh. Dưới ánh lồng đèn kéo quân, mặt anh có những cái bóng ngựa chạy qua, chạy qua.
Họ đứng dậy. Lúc đó đám đông lại đẩy tới, tay cô chạm vào tay anh. Cô không rút tay lại ngay. Anh cũng không. Chỉ có một giây, hai giây, mu bàn tay hai người áp vào nhau, rồi cô rút về, cầm tay thằng Bin.
– Anh Bân.
– Dạ.
– Anh lập đội bóng vì sao?
Anh nhìn cô rất lâu, lâu tới mức thằng Bin giật tay cô kêu đi.
– Chừng nào hết mùa giải, tôi nói, – anh nói. – Bây giờ mà nói thì cô phải phạt tôi thêm một thẻ.
Cô không hỏi nữa. Cô biết luật. Cô cũng biết, chính cô là người đặt ra cái luật đó.
Trong hai tuần đó, kể cả buổi sáng hôm rằm, đội Đồng Hồ đá ba trận. Một trận đá bù tối thứ Tư do một trọng tài khác bắt, thua. Hai trận Chủ nhật do cô bắt, một trận thua, một trận hòa, trận hòa đầu tiên trong lịch sử của họ. Vĩnh Bân nhận thêm hai thẻ vàng, một vì chạm tay chặn bóng, một vì đá bóng đi sau tiếng còi. Cái nào cô cũng phạt, anh cái nào cũng nhận. Năm thẻ vàng. Một thẻ nữa là anh lại nghỉ.
Tối Chủ nhật, ban trọng tài gửi lịch đánh giá. Ý Lan mở thư ra, đọc dòng đầu tiên, rồi đặt điện thoại úp xuống bàn.
"Trận đánh giá số một: sáng Chủ nhật tới, bảy giờ, sân số ba cụm sân Ông Lựu. Đồng Hồ Chợ Lớn gặp Bảo Hiểm Phú Lâm."
— Hết chương 4 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe