Chương 1: Ba tiếng vô vách
Mười giờ đêm, vách phòng tui kêu cộp, cộp, cộp. Ba tiếng, cách đều nhau, như ai gõ cửa bằng nắm tay.
Không phải ai gõ. Là quả cầu.
Ở dãy trọ số chín của cô Kim, vách phòng là tường gạch tô xi măng mỏng, bên ngoài là con hẻm rộng vừa một chiếc xe máy. Thằng Quới đứng ngoài hẻm, tâng quả cầu lên ba lần, rồi đá ngược gót cho nó dội vô vách phòng tui đúng ba cái. Từ hồi tui mới dọn lên đây năm lớp bảy, ba tiếng đó có nghĩa là: ra sân chợ.
Tui nằm trên cái nệm mỏng, nghe hơi thở của má với bé Mít ở bên kia tấm màn. Má đi ca tăng tới tám giờ tối mới về, tắm rửa xong là ngủ như chết. Bé Mít tám tuổi, ngủ thì gác chân lên bụng má, miệng còn nhai nhai như đang ăn kẹo. Tui rón rén ngồi dậy, xỏ đôi giày bata vô, mở cửa từng chút một cho cái bản lề khỏi kêu.
Ngoài hẻm, thằng Quới đứng dưới bóng đèn đường, áo thun ba lỗ, quần short, đôi dép tổ ong đã mòn tới đế. Nó mười sáu tuổi, hơn tui một tuổi, cao hơn tui một cái đầu, hai cánh tay đen bóng dầu nhớt tới khuỷu.
– Lâu dữ vậy mậy. – Nó nói. – Tao đá muốn bể vách nhà mày.
– Bể thì cô Kim bắt đền mày chớ ai.
Hai đứa đi bộ ra sân chợ. Chợ tạm của khu phố họp trên một bãi đất trống lát xi măng, ban ngày bán rau cá, tối bán đồ ăn vặt cho công nhân tan ca. Mười giờ thì người ta dọn hết, chỉ còn mùi cá tanh, mùi dầu chiên, mấy cái thùng xốp vỡ và một cây đèn cao áp vàng khè chiếu xuống như cái đèn sân khấu. Bãi xi măng dưới cây đèn đó, tụi tui lấy phấn kẻ một cái sân, chính giữa căng một sợi dây dù làm lưới, buộc một đầu vô cột đèn, một đầu vô cái cọc sắt của ông bán mía.
Quới thảy quả cầu cho tui.
Quả cầu đó là của nó làm, không giống quả cầu nào ngoài tiệm. Cái đế là ba cái long đền xe máy chồng lên nhau, ở giữa kẹp một miếng cao su cắt từ chiếc dép kẹp đứt quai. Cắm lên trên là bốn cọng lông gà trống, lông đuôi, xanh đen óng ánh, xin của bà Sáu bán hột vịt lộn ở đầu hẻm. Long đền nặng hơn đế cao su thường, nên quả cầu rơi nhanh, đá phải dồn sức, phải canh đúng. Đá trúng thì nó bay vọt lên như con chim, đá trật thì nó đập vô mu bàn chân đau điếng.
– Cầu ngoài tiệm nhẹ hều. – Quới nói, lần thứ một trăm. – Đá cầu long đền quen rồi, đá cầu xịn như đá bông gòn.
Ba năm trước, tui với má với bé Mít lên đây từ một xã ven sông ở Trà Vinh cũ, bây giờ nhập về Vĩnh Long. Ba tui mất trên công trình ở Long An, té từ giàn giáo tầng bốn. Má bán mấy công ruộng trả nợ, xách hai cái giỏ đệm với một đứa con gái năm tuổi, dắt tui lên xin vô xưởng may. Ngày đầu tiên ở dãy trọ số chín, tui ngồi trong phòng cả buổi chiều, không dám ra hẻm, không biết ai, nghe tiếng nói ngoài kia lạ hoắc. Tới chạng vạng thì vách phòng kêu cộp một cái.
Tui mở cửa. Một thằng nhỏ đen thui, ở trần, đứng tâng quả cầu long đền ngay trước cửa. Nó không chào, không hỏi tên. Nó chỉ đá quả cầu qua cho tui. Tui đỡ bằng ngực, quả cầu rớt xuống chân. Nó nói: "Dở ẹc. Ra đây tao chỉ." Tới tối, tui biết tên nó là Quới, biết nó học lớp tám, biết bà Sáu đầu hẻm nuôi bầy gà trống có lông đuôi đẹp nhất khu phố. Một tháng sau, tui đã đá được cú tấn công đầu tiên. Từ đó tới giờ, ba năm, trừ những đêm mưa lớn, không đêm nào vách phòng tui không kêu.
Tụi tui đá tới mười một giờ. Đá chuyền qua lại, rồi chia sân đá đấu, ván hai mươi mốt điểm. Quới thắng tui ba ván liền. Nó đá một cú tấn công bằng lòng bàn chân, người bật lên, chân phải vung qua đầu, quả cầu cắm xuống sát sợi dây dù như mũi tên. Tui nhào theo không kịp, té ngồi xuống bãi xi măng, quần dính nguyên một mảng dầu cá.
Có tiếng vỗ tay.
Một chiếc xe tay ga màu trắng đậu ở mé bãi, chỗ tối. Người ngồi trên xe là anh Toại. Anh ba mươi mấy tuổi, ở dãy trọ đường trên, ăn mặc lúc nào cũng sạch sẽ, áo sơ mi bỏ thùng, tóc chải keo, nói chuyện nhỏ nhẹ, gặp ai cũng chào. Con nít trong khu phố đứa nào cũng từng được anh cho tiền mua nước. Người lớn thì ít ai nói chuyện với anh lâu.
– Thằng Quới đá cú đó coi được. – Anh Toại nói, tay vẫn vỗ, chậm rãi. – Chân cao, mà đáp xuống không mất thăng bằng. Giống ba mày hồi xưa.
Quới không trả lời. Nó cúi xuống nhặt quả cầu, phủi phủi mấy cọng lông gà.
Anh Toại móc ví, rút ra một tờ một trăm nghìn, kẹp giữa hai ngón tay chìa ra.
– Lại đây. Mua bộ cầu xịn mà tập. Đá cầu long đền hoài, đến hồi thi đá cầu thật không quen.
– Tụi em không cần đâu anh. – Tui nói.
Nhưng Quới đã đi tới, cầm lấy tờ tiền, nói "cảm ơn anh" nhỏ xíu. Anh Toại cười, vỗ vai nó hai cái.
– Có giải đá cầu thanh thiếu niên của phường, mừng Quốc khánh. Đôi nam dưới mười tám. Giải nhất năm triệu. Hạn chót đăng ký là ngày mười lăm tháng Tám. – Anh nói. – Hai đứa bây đăng ký đi. Đôi bây mà không vô chung kết thì tao không biết đôi nào vô.
Rồi anh nổ máy, chạy đi. Đèn hậu xe đỏ lòm khuất ở đầu hẻm.
Tui đứng nhìn theo, thấy trong bụng có cái gì đó không yên, như ăn phải con ốc chưa chín.
– Mày lấy tiền ảnh chi vậy?
– Mua cầu. – Quới nói. – Ảnh nói mua cầu mà.
– Má tao nói đừng lấy cái gì của ảnh hết.
– Má mày nói vậy là má mày. – Quới nhét tờ tiền vô túi quần. – Tao làm ở tiệm, một ngày được có một trăm rưỡi. Ảnh cho một trăm, tao không lấy thì tao khùng.
Tui không cãi nữa. Quới làm thợ phụ ở tiệm sửa xe của chú Sáu Kiệm ngoài đầu đường từ năm ngoái, sau khi thi xong lớp chín. Nó không học lên lớp mười. Nó nói nó học dở, học lên tốn tiền. Tui biết nó nói dối một nửa. Quới học không dở. Hồi lớp tám nó còn giải toán nhanh hơn tui. Chỉ có cái nửa kia là thật: nhà nó không có tiền.
Ba nó, chú Tư Bền, làm ở xưởng gỗ gần khu công nghiệp hơn hai chục năm, tới Tết rồi thì xưởng cắt người. Từ đó tới giờ chú ở nhà, ngày nào cũng ngồi quán cóc đầu hẻm từ trưa tới tối, có khi hát vọng cổ, có khi nằm luôn trên cái băng ghế đá. Má nó về quê Đồng Tháp từ hồi Quới học lớp năm, không lên nữa. Phòng nhà nó ở cuối dãy trọ, kế cái bể nước, cửa sổ lúc nào cũng đóng.
– Lụm. – Quới gọi tui, giọng khác hẳn.
– Gì?
– Tao đăng ký rồi.
– Đăng ký gì?
Nó móc trong túi quần sau ra một tờ giấy gấp làm tư, nhàu nát. Tờ phiếu đăng ký giải đá cầu thanh thiếu niên của phường, có đóng dấu đỏ. Ở mục tên vận động viên, chữ của Quới viết bằng bút bi, nét to và nghiêng, ghi hai cái tên. Tên nó, và tên tui.
– Mày đăng ký tên tao hồi nào?
– Hôm thứ Bảy. Ở nhà văn hoá khu phố.
– Sao không hỏi tao?
– Hỏi thì mày lại nói để về hỏi má. – Quới nói. – Má mày lại nói không. Tao đăng ký luôn cho gọn.
Tui cầm tờ phiếu. Ở góc dưới có dòng chữ đánh máy: lệ phí đăng ký hai trăm nghìn mỗi đôi. Bên cạnh có chữ "đã thu", ký tên ai đó.
– Tiền đâu mày đóng?
Quới nhìn xuống bàn chân. Nó lấy mũi dép tổ ong di di lên mặt xi măng, chỗ có vết dầu cá.
– Anh Toại đóng.
Tui không nói được gì. Tui nhìn ra đầu hẻm, chỗ cái đèn hậu xe vừa khuất.
– Mày đừng có nhìn tao kiểu đó. – Quới nói. – Ảnh nói ảnh thích coi đá cầu. Ảnh đóng cho mấy đôi khác nữa chớ không phải mình tụi mình.
– Mấy đôi nào?
– Tao không biết.
Tui gấp tờ phiếu lại, đưa trả cho nó. Quới cầm lấy, nhét vô túi quần sau, rồi tâng quả cầu long đền lên một cái, hai cái, ba cái, đều như đồng hồ.
– Lần này tao phải lấy giải nhất. – Nó nói, mắt nhìn quả cầu chứ không nhìn tui. – Mày đừng hỏi tao lấy để làm gì. Mày chỉ cần đứng bên kia sân, đỡ mấy trái tao không với tới. Vậy thôi.
Tui biết Quới. Nó nói "đừng hỏi" thì có hỏi tới sáng nó cũng không nói. Tui đứng nhìn quả cầu bay lên rơi xuống trong ánh đèn cao áp, bốn cọng lông gà trống xoay tròn, ba cái long đền va vô nhau kêu leng keng nho nhỏ mỗi lần chạm chân.
Mười một giờ rưỡi, tụi tui về. Tới trước cửa phòng tui, Quới dừng lại, đá quả cầu vô vách thêm một cái, nhẹ thôi, như gõ chào. Rồi nó đi về cuối dãy, chỗ cái bể nước, chỗ có tiếng chú Tư Bền đang ngáy vọng ra qua khe cửa.
Tui mở cửa thật nhẹ. Đèn trong phòng đang sáng.
Má ngồi trên nệm, tóc xoã, hai mắt đỏ vì buồn ngủ. Bé Mít vẫn ngủ, gác chân lên cái gối ôm, cái quạt máy kêu rè rè quay qua quay lại giữa hai má con. Trong tay má cầm tờ giấy báo điểm thi vô lớp mười của tui mà tui giấu dưới gối từ tuần trước. Môn Toán, bốn điểm rưỡi.
— Hết chương 1 —
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe