Chương 2: Dãy trọ số chín
Má không la. Đó là cái làm tui sợ nhất.
Má chỉ để tờ giấy báo điểm lên đùi, lấy tay vuốt cho thẳng chỗ bị gấp, vuốt hoài, như vuốt cái áo trước khi ủi. Văn sáu điểm, Anh sáu rưỡi, Toán bốn điểm rưỡi. Cộng lại không đủ vô trường công gần nhà. Nguyện vọng hai là một trường cách đây mười hai cây số, cũng không chắc đậu.
– Con đi đâu giờ này? – Má hỏi.
– Con ra sân chợ đá cầu với thằng Quới.
– Mười một giờ rưỡi đêm.
– Dạ.
Má gật đầu. Má gấp tờ giấy làm đôi, nhét vô cái túi vải đựng giấy tờ của nhà, cái túi có giấy khai sinh của tui, của bé Mít, giấy chứng tử của ba. Trong đó còn sổ tạm trú với mấy tờ hoá đơn tiền điện.
– Con ngủ đi. – Má nói. – Mai má tính.
Má tắt đèn. Tui nằm xuống, nghe tiếng quạt máy kêu rè rè, nghe má trở mình bên kia tấm màn. Rất lâu sau, tui nghe má nói nhỏ, không biết với tui hay với ai:
– Xưởng sắp cắt ca. Hết tháng Tám mà không có đơn hàng mới thì má con mình về quê. Về dưới, trường ngoài xã lấy điểm thấp, con học được.
Tui không trả lời. Tui giả bộ ngủ.
Sáng hôm sau, má đi làm lúc năm giờ bốn mươi như mọi ngày. Má dặn tui nấu cơm trưa cho bé Mít, phơi đồ, đừng cho nó ra hẻm chơi một mình. Má không nhắc lại chuyện về quê. Má chỉ đứng ở cửa nhìn vô phòng một lúc, nhìn cái nồi cơm điện, cái tủ nhựa ba ngăn, tấm hình ba trên cái kệ gỗ, như người ta nhìn đồ đạc trước khi gói ghém.
Dãy trọ số chín có mười hai phòng, mỗi phòng mười hai mét vuông, cửa sắt sơn xanh, trước cửa phòng nào cũng có một cái kệ để giày dép và một cái móc phơi đồ. Phòng một là cô Kim chủ trọ ở với thằng Nguyên con trai. Phòng hai là hai vợ chồng anh chị làm ca đêm, ban ngày ngủ, ai ồn là chị gõ vách. Phòng ba tới phòng tám là công nhân, có phòng ở bốn người, chiều chiều ngồi trước cửa ăn mì gói. Phòng chín là nhà tui. Phòng mười hai, cuối dãy, kế cái bể nước, là nhà Quới.
Chín giờ sáng, cô Kim đi dọc dãy trọ ghi số điện. Cô năm mươi tuổi, người Sài Gòn gốc, tóc nhuộm màu nâu đỏ, lúc nào cũng mang đôi guốc gỗ kêu lộc cộc, cầm cuốn sổ nhỏ với cây bút bi gắn dây thun. Cô không dữ. Cô chỉ kỹ. Điện ba ngàn rưỡi một số, nước mười tám ngàn một khối, trễ tiền nhà ba ngày thì cô đứng trước cửa phòng nói chuyện thời tiết cho tới khi người ta tự móc tiền ra.
– Má con tháng này đóng tiền nhà chưa? – Cô hỏi, mắt nhìn cái đồng hồ điện.
– Dạ má con nói mùng năm.
– Mùng năm. – Cô ghi vô sổ. – Bữa nay mùng ba rồi đó nghen.
Thằng Nguyên đi ra từ phòng một, mang đôi giày đá cầu mới tinh màu trắng sọc xanh, đế cao su non, loại người ta bán ở cửa hàng thể thao ngoài đường lớn. Nó mười sáu tuổi, bằng tuổi Quới, sắp lên lớp mười một trường công gần nhà, trường mà tui không đậu. Nó tập ở câu lạc bộ đá cầu của phường từ năm lớp sáu, có huấn luyện viên, có áo đấu in tên. Năm ngoái nó với thằng Hậu đôi của nó được giải nhì giải trẻ của thành phố.
Nguyên thấy quả cầu long đền tui để trên kệ giày, cầm lên, lắc lắc nghe ba cái long đền va nhau leng keng.
– Thứ này là đồ chơi của ông nội tao hồi xưa đó. – Nó nói. – Mày với thằng Quới tính đá giải phường bằng cái này hả?
– Giải đá cầu xịn chớ.
– Tao biết. – Nguyên cười. – Tao hỏi chơi vậy thôi. Tao đá cặp với thằng Hậu. Gặp tụi tao từ vòng bảng là tụi mày về sớm.
Nó thảy quả cầu lại cho tui. Tui đỡ bằng mu bàn chân, tâng lên một cái rồi bắt bằng tay. Nguyên nhướng mày, không nói gì nữa, xách túi đi ra đầu hẻm. Cô Kim nhìn theo con, rồi nhìn tui, rồi lại ghi số nước vô cuốn sổ.
Mười một giờ trưa, tui nấu cơm, chiên hai cái trứng, cho bé Mít ăn. Nó ăn xong thì ngồi trước cửa phòng, lấy phấn vẽ ô ăn quan trên nền xi măng. Tui ngồi trên bậc cửa, tâng quả cầu long đền. Một trăm cái thì đổi chân. Hai trăm cái thì bé Mít bắt đầu đếm theo.
– Hai trăm lẻ một, hai trăm lẻ hai... Anh Hai, sao cầu của anh có tiếng chuông?
– Không phải chuông. Long đền.
– Long đền là gì?
– Là cái vòng sắt nhỏ, người ta lót dưới con ốc cho ốc khỏi lỏng.
Bé Mít suy nghĩ một hồi, rồi nói:
– Vậy cầu của anh có ba con ốc không bao giờ lỏng.
Tui bật cười, quả cầu rớt xuống, lăn ra hẻm. Nó lăn tới đúng cái chân dép của một người đang đi lại. Chú Tư Bền.
Chú bốn mươi lăm tuổi mà nhìn như năm mươi lăm. Tóc chú lốm đốm bạc, mặt đỏ vì rượu từ sáng, cái áo sơ mi caro bạc màu mở hết hai nút trên. Chú đi từ quán cóc đầu hẻm về, tay cầm bịch đá có sợi dây thun cột miệng. Thấy quả cầu, chú dừng lại, nhìn nó một lúc lâu.
Rồi chú làm một chuyện tui không bao giờ quên.
Chú không cúi xuống nhặt. Chú lấy mũi dép kẹp hất nhẹ quả cầu lên ngang gối, rồi đỡ bằng má trong bàn chân, tâng một cái, hai cái, ba cái, đều tăm tắp, không nhìn xuống, không xê dịch thân người. Tới cái thứ tư, chú khuỵu nhẹ chân trụ xuống, đầu gối chùng như cái lò xo, và đá quả cầu bay vút lên cao hơn mái tôn dãy trọ. Quả cầu rơi xuống, chú chìa lòng bàn chân ra đón, quả cầu nằm yên trên mu bàn chân chú như con chim đậu.
Bé Mít há hốc miệng.
Chú Tư Bền hất quả cầu qua cho tui. Tui chụp lấy.
– Đầu gối mềm. – Chú nói, giọng lè nhè. – Đá cầu là phải đầu gối mềm. Đầu gối cứng là đá như đá cột điện.
Rồi chú đi tiếp về cuối dãy, vừa đi vừa ngâm nga mấy câu vọng cổ mà tui nghe không rõ chữ. Chú mở cửa phòng mười hai, đi vô, đóng cửa lại. Cửa sổ vẫn đóng.
Tui đứng cầm quả cầu, nghe tiếng long đền va nhau trong lòng bàn tay mình. Ba năm nay, tui chưa từng thấy chú Tư Bền đá cầu. Tui chỉ thấy chú ngồi quán, nằm ghế đá, có lần thấy chú quỳ trước cửa phòng nói chuyện với ai đó trong điện thoại, giọng nhỏ và gấp. Quới cũng chưa bao giờ kể ba nó biết đá cầu. Anh Toại hôm qua nói câu "giống ba mày hồi xưa", tui tưởng ảnh nói cho vui.
Ba giờ chiều, tui dắt bé Mít ra đầu hẻm xin lông gà. Bốn cọng lông trên quả cầu đã xơ, một cọng gãy ngang. Bà Sáu bán hột vịt lộn ngồi dưới gốc cây bàng trước cửa nhà, cái thúng hột vịt đậy khăn để bên chân, cái lò than nhỏ chưa nhóm. Sau nhà bà có cái chuồng tre nuôi sáu con gà trống, con nào cũng to, lông đuôi dài cong như lưỡi liềm. Bà nuôi để bán cho người ta cúng, nhưng con nào bà cũng đặt tên, tới lúc bán thì bà vô nhà ngồi, không ra coi.
– Lại xin lông nữa hả. – Bà nói, chưa đợi tui mở miệng. – Bà nhổ cho mày hoài, mấy con gà của bà sắp trụi đít rồi.
Nói vậy chớ bà vẫn đứng dậy, đi ra sau chuồng. Bà không nhổ lông trên mình gà. Bà chỉ lượm những cọng lông đuôi gà tự rụng, cất trong một cái hộp bánh bằng thiếc, cọng nào đẹp thì để riêng. Bà lựa cho tui bốn cọng, xanh đen óng như dầu, đưa cho bé Mít cầm.
– Đá cầu với thằng Quới phải không?
– Dạ.
– Hồi xưa, hơn hai chục năm trước, hồi khu này còn ruộng với vườn điều, chưa có dãy trọ nào hết, có hai thằng cũng ngày nào cũng ra đây xin lông gà của bà. – Bà Sáu nói, tay phe phẩy cái quạt mo cau. – Đá cầu cả xóm bu lại coi. Có bữa đá tới khuya, công an khu vực phải ra nhắc. Giờ thì một đứa ngồi quán nhậu, một đứa ngồi tiệm sửa xe, đi ngang mặt nhau không thèm nhìn.
– Ai vậy bà?
Bà Sáu nhìn tui, rồi nhìn bé Mít đang cầm bốn cọng lông gà giơ lên trời cho nắng chiếu.
– Chuyện người lớn. – Bà nói. – Mày về đi. Cắm lông cho chặt vô, lông gà trống của bà không phải để mày đá văng tứ tung.
Tối đó, má đi làm về sớm hơn mọi bữa, mới bảy giờ. Má xách theo một bịch bánh bò của bà bán bánh trước cổng xưởng, loại bánh bò nướng má biết tui thích. Tui hiểu má muốn nói chuyện. Má ít khi mua bánh, mỗi lần mua là có chuyện: bữa tui lên lớp bảy, bữa tui bị sốt xuất huyết năm ngoái. Tui ngồi đợi.
Nhưng người mở miệng trước không phải má.
Cô Kim đi ngang cửa phòng, dừng lại, gõ nhẹ lên khung cửa sắt.
– Chị Thơm về rồi hả. – Cô nói với má. – Bữa thứ Bảy tui lên nhà văn hoá khu phố họp tổ, thấy thằng Quới đăng ký giải đá cầu. Ghi tên thằng Lụm nhà chị luôn. Mà tiền lệ phí là thằng Toại đóng, tui đứng kế bên thấy nó móc ví. Chị biết chưa?
Cô Kim nói xong thì đi luôn, guốc gỗ kêu lộc cộc về phòng một. Cô không nói thêm câu nào. Tui biết cô không có ý gì xấu. Cô chỉ kỹ.
Má đặt bịch bánh bò xuống cái chiếu. Má quay sang nhìn tui. Lần này má không vuốt giấy, không gật đầu.
– Con có biết thằng Toại làm nghề gì không?
— Hết chương 2 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe