Chương 9: Đêm mùng Một
Ba ngày trước chung kết, tui sống như người đi trên mái tôn nóng.
Chủ nhật, tui đem trả Quới quả cầu long đền tui mò được trên mái tôn. Nó cầm lấy, lật đế lên coi, thấy miếng cao su kẹp giữa đã nứt vì cú đá tối thứ Sáu. Nó ngồi xuống bậc cửa phòng mười hai, lấy dao rọc giấy cắt một miếng cao su mới từ cái dép kẹp cũ.
Tui kể cho nó nghe câu của thằng Nguyên. Kể đúng từng chữ, cả cái câu "đá giả là tao biết". Rồi tui kể luôn chuyện chú Sáu kể, cái long đền to nhất dưới cùng là chú cắt ra từ chiếc xe đầu tiên chú sửa một mình, hai mươi mốt năm trước. Quới nghe hết, tay vẫn cắt, cắt cho tới khi miếng cao su tròn vừa khít cái long đền.
– Thằng Nguyên nói vậy hả. – Nó nói. – Ừ.
Chỉ vậy thôi. Ừ. Nhưng lúc lắp lại quả cầu, nó lấy ngón tay cái miết lên cái long đền dưới cùng, đúng chỗ mòn láng, y như cái bữa chú Sáu cầm quả cầu ở vỉa hè.
Thứ Hai, tụi tui vẫn ra sân chợ, năm giờ sáng với chín giờ rưỡi tối. Vẫn đá. Nhưng không đá đấu nữa, chỉ đá chuyền. Quới chuyền cho tui, tui chuyền cho Quới, quả cầu bay qua bay lại trên sợi dây dù như con thoi. Không ai đếm điểm. Không ai la. Bé Mít ngồi trên thùng xốp, ôm cái bảng điểm các-tông, đợi hoài không thấy ai ghi điểm thì ngủ gục.
Trưa thứ Hai, anh Toại tới dãy trọ số chín. Anh không gõ cửa phòng mười hai. Anh chỉ ngồi xuống cái bậc xi măng trước cửa, châm một điếu thuốc, hút từ từ, mắt nhìn ra hẻm. Mười phút. Không nói câu nào. Người phòng sáu đi ngang, chào anh, anh gật đầu cười. Cô Kim đứng phơi đồ ở đầu dãy, nhìn xuống, rồi đi vô phòng một đóng cửa lại. Hút xong điếu thuốc, anh dụi tàn vô cái chậu kiểng trước cửa phòng mười hai, đứng dậy phủi quần, đi về. Bên trong, tui nghe chú Tư Bền ho, tiếng ho khan kéo dài như người ta kéo một cái ghế sắt trên nền gạch.
Tui hiểu cái chữ "ngồi" của Quới là gì.
Chiều thứ Hai, tui đi gặp chú Tư Bền.
Ba ngày nay chú không ra quán cóc. Từ trạm y tế về, chú nằm trong phòng mười hai, đầu quấn băng trắng, ba mũi khâu ở trên mày bên trái. Quới đi làm. Cửa phòng mở hé như tối thứ Bảy. Tấm huy chương bạc không còn trên vách, chú để nó trên cái gối kế bên.
Tui đứng ở cửa. Chú thấy tui, chống tay ngồi dậy.
– Vô đi. – Chú nói. Giọng chú khàn, nhưng tỉnh. Ba ngày không rượu, tay chú run, mắt chú trong.
Tui không vô. Tui đứng ở cửa, nói một hơi, sợ dừng lại là không nói được nữa.
– Chú. Con biết chuyện năm hai nghìn lẻ năm. Con biết anh Toại hứa xoá nửa nợ nếu Quới thua chung kết. Con biết Quới cầm một triệu rồi. – Tui nói. – Chú bán một lần rồi. Chú để con chú bán luôn hả chú?
Chú Tư Bền ngồi im. Tui tưởng chú sẽ chửi, như cái bữa Quới nói hỏi thêm thì ổng chửi. Chú không chửi. Chú cầm tấm huy chương bạc trên gối lên, cầm bằng hai tay, nhìn xuống nó.
– Hai mươi mốt năm. – Chú nói. – Đêm nào tao cũng đá lại trái cầu đó trong mơ. Trái nào tao cũng đỡ được. Đỡ được rồi thì tao giật mình thức dậy, nằm nhìn trần nhà tới sáng.
Chú lấy ngón tay cái chà lên mặt huy chương xỉn đen, chà hoài như muốn chà cho nó sáng lại.
– Tao không cho nó làm. – Chú nói. – Bữa thằng Toại tới, tao quỳ xuống là để xin thêm thời gian, không phải để xin cho con tao bán. Tao nói với thằng Quới, mày đừng nghe nó. Thằng Quới nói: ba trả nợ bằng gì? Tao không trả lời được. – Chú ngẩng lên nhìn tui. – Mày biết người ta đòi nợ kiểu thằng Toại là sao không? Không đánh ai. Chỉ tới ngồi. Ngồi trước cửa. Thằng Quới sợ cái đó hơn sợ ai đánh nó.
– Chú nói với anh Toại là không được.
– Tao nói rồi. – Chú cười, cái cười như cái quạt hư bạc đạn. – Thằng Toại nói: chú nói thì chú trả liền mười hai triệu đi. Tao không có. Tao không có gì hết, Lụm. Tao chỉ có cái này.
Chú giơ tấm huy chương bạc lên. Sợi ruy băng đỏ đã bạc thành màu hồng đung đưa.
Tui đứng ở cửa thêm một lúc, rồi đi về. Tui không biết nói gì với một người lớn đang cầm tấm huy chương bạc mà khóc không ra tiếng.
Sáng thứ Ba, mùng Một tháng Chín, tui đi gặp chú Sáu.
Tiệm vẫn mở như mọi ngày. Quới đang thay vỏ một chiếc xe ga, quay lưng về phía đường. Chú Sáu ngồi ở cái ghế đẩu sau bàn đồ nghề, ghi gì đó vô cuốn sổ bìa đen. Tui đứng trước bàn, nói nhỏ để Quới không nghe.
– Chú. Chú Tư Bền ba ngày nay không uống rượu. Chú ấy nói chú ấy không cho Quới làm. Mà chú ấy không có tiền trả. – Tui nói. – Chú giúp được không chú?
Chú Sáu không ngẩng lên. Cây bút bi trong tay chú vẫn chạy trên trang giấy.
– Tao chở nó lên trạm y tế rồi. – Chú nói. – Ngồi với nó hai tiếng. Vậy là hết phần tao.
– Nhưng chú...
– Hai mươi mốt năm. – Chú đặt cây bút xuống. – Mày mười lăm tuổi, mày không biết hai mươi mốt năm là bao lâu đâu. Một cái bậc thềm quán cóc không đủ.
Chú đứng dậy, đi vô sau tiệm, kéo cái cửa gỗ ngăn tiệm với nhà lại. Quới quay lại nhìn tui, tay còn cầm cái cần nạy vỏ xe. Tui lắc đầu, đi ra.
Chiều thứ Ba, tui về phụ má xếp đồ.
Đồ nhà tui không nhiều. Hai cái giỏ đệm, một bao tải, cái nồi cơm điện, cái quạt máy tháo cánh, tấm hình ba gói trong tờ báo cũ. Cái nệm với cái tủ nhựa thì má bán lại cho người phòng bảy, được hai trăm ngàn. Bé Mít ngồi giữa đống đồ, ôm cái bảng điểm các-tông.
– Anh Hai. Em đem cái này về quê được không?
– Đem đi.
– Ở quê có ai đá cầu không?
– Không biết. – Tui nói. – Chắc có.
Bé Mít suy nghĩ một hồi, rồi nhét cái bảng điểm vô giỏ đệm, nằm trên cùng, đè lên mấy cái áo đầm của nó.
Năm giờ chiều, tui ra đầu hẻm chào bà Sáu. Bà đang nhóm lò than, khói bay mù mịt dưới gốc bàng. Tui kể bà nghe quả cầu long đền bị kẹt trên mái tôn, gãy mất một cọng lông. Bà không nói gì, đi ra sau chuồng, mở cái hộp bánh bằng thiếc, lựa ra bốn cọng lông đuôi gà trống, đẹp nhất hộp, xanh đen óng như dầu, gói vô một tờ giấy báo, dúi vô tay tui.
– Cắm lại cho thằng Quới. – Bà nói. – Mai chung kết hả?
– Dạ.
– Mốt về quê hả?
– Dạ.
Bà Sáu ngồi xuống lại, lấy cái quạt mo cau phe phẩy lò than.
– Năm hai nghìn lẻ năm, bà đóng sạp đi coi. – Bà nói. – Mai bà cũng đóng sạp.
Đêm đó, tui nằm trên nền xi măng, vì cái nệm đã bán. Má với bé Mít nằm trên chiếu kế bên. Phòng trống trơn, tiếng quạt máy không còn, chỉ có tiếng muỗi với tiếng ti vi phòng bên. Trên trần có một vết ố nước mưa loang thành hình con cá, ba năm nay đêm nào tui cũng nhìn nó trước khi ngủ, tới đêm cuối mới thấy nó giống con cá lóc. Tui nằm nhìn trần nhà, nghĩ tới chú Tư Bền đêm nào cũng nằm nhìn trần nhà tới sáng.
Mười một giờ bốn mươi, vách phòng tui kêu cộp, cộp, cộp.
Tui ngồi dậy. Má trở mình, nhưng không thức. Bé Mít nói mớ một con số, mười chín, rồi chép miệng ngủ tiếp. Tui mở cửa thật nhẹ.
Quới đứng dưới bóng đèn đường, tay cầm quả cầu long đền của nó, cái cũ, có miếng cao su mới cắt hôm Chủ nhật. Nó không tâng cầu. Hai đứa không ra sân chợ. Hai đứa ngồi xuống cái bậc xi măng trước cửa phòng tui, chân duỗi ra hẻm.
– Ba tao ngủ rồi. – Quới nói. – Ổng ngủ được. Ba năm nay lần đầu tao thấy ổng ngủ mà không ngáy, không nói mớ.
Tui không nói gì.
– Mai mày cứ đá. – Quới nói. – Đá hết sức. Tao thì tao tính.
– Tính là sao?
– Là tao tính. – Nó nói. Rồi nó chìa quả cầu long đền ra. – Cái này mày cầm về quê đi. Ba cái long đền, một cái của ông Sáu, hai cái của ba tao. Tao làm cái khác.
– Mày đưa tao làm chi? Mai mình còn đá.
– Mai đá cầu xịn. Cầu long đền không đá chung kết được. – Quới nhét quả cầu vô tay tui.
Tui móc trong túi quần ra cái gói giấy báo của bà Sáu, mở ra. Bốn cọng lông đuôi gà trống nằm trong đó, óng lên dưới bóng đèn đường. Quới nhìn mấy cọng lông một hồi lâu. Rồi nó lấy lại quả cầu trong tay tui, rút từng cọng lông cũ ra, cắm từng cọng lông mới vô, xoay cho bốn cọng xoè đều như bốn cánh quạt. Nó không có chỉ, tui chạy vô phòng lấy cuộn chỉ may của má, nó quấn chặt dưới chân lông, cắn đứt sợi chỉ bằng răng. Hai đứa ngồi dưới đèn đường làm cái việc đó mất mười lăm phút, không nói câu nào, như hai ông thợ già.
Xong, nó đưa lại quả cầu cho tui, rồi đứng dậy. Nó đứng dưới bóng đèn đường, cái bóng của nó đổ dài xuống mặt hẻm.
– Lụm.
– Gì?
– Mai nếu tao đá dư một gang tay, – nó nói, không quay lại, – mày đừng nhìn tao.
— Hết chương 9 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe