Chương 6: Năm hai nghìn lẻ năm
Sáu giờ rưỡi sáng thứ Sáu, tui đứng trước tiệm chú Sáu Kiệm. Tiệm chưa mở. Cánh cửa cuốn bằng tôn kéo xuống tới đất, khoá ống. Tui biết chú ở ngay trong căn nhà phía sau tiệm, sáu giờ là dậy pha cà phê phin.
Tui gõ lên cửa cuốn ba cái. Ba cái, cách đều nhau.
Một lúc lâu sau, cửa cuốn kéo lên tới ngang ngực. Chú Sáu cúi đầu nhìn ra, tay cầm ly cà phê, mặt còn chưa rửa. Chú nhìn tui một cái, rồi kéo cửa lên thêm một chút, vừa đủ cho tui chui vô.
– Thằng Quới chưa tới đâu. – Chú nói. – Bảy giờ nó mới tới.
– Con không kiếm Quới. Con kiếm chú.
Chú kéo cửa cuốn xuống lại ngang ngực. Trong tiệm tối, chỉ có ánh sáng lọt qua khe cửa, rọi một vệt dài lên nền xi măng loang dầu nhớt. Chú ngồi xuống cái ghế đẩu sau bàn đồ nghề, chỉ tui ngồi lên cái thùng sơn lật úp.
Tui kể. Kể hết. Cái phong bì trắng sau nhà văn hoá. Mấy trái cầu Quới đá dư một gang tay. Hai người đứng trong con hẻm cụt kế bể nước, đốm lửa thuốc lá, câu "chung kết thì nhớ đó", câu "nửa trước nó cầm rồi". Và câu cuối cùng: chú hồi đó hai mươi bốn, chú còn biết làm.
Chú Sáu nghe hết, không chen một chữ. Ly cà phê trên tay chú nguội dần, chú không uống ngụm nào. Tới câu cuối cùng, chú đặt ly cà phê xuống bàn đồ nghề, cạnh hộp long đền.
Chú ngồi im rất lâu. Ngoài đường, xe máy bắt đầu chạy, tiếng còi lác đác.
– Năm hai nghìn lẻ năm. – Chú nói. – Tao với thằng Bền hai mươi bốn tuổi.
Chú kể chậm. Chú vốn ít nói, nên chú kể như người lâu ngày không dùng một cái máy, phải khởi động từng chút một.
Hồi đó khu này còn là ruộng với vườn điều, dãy trọ chưa có, xưởng gỗ mới mở được mấy năm. Chú Sáu là dân gốc ở đây, học nghề sửa xe từ năm mười lăm tuổi. Chú Tư Bền dưới Đồng Tháp lên, mười tám tuổi vô làm xưởng gỗ, ở trọ trong một cái chòi lá kế tiệm sửa xe của ông thầy chú Sáu. Chiều nào tan ca, hai thằng cũng ra bãi đất trống trước chợ đá cầu, bằng một quả cầu làm từ long đền.
– Cái long đền dưới cùng của quả cầu thằng Quới đó. – Chú Sáu nói. – Cái to nhất, mòn láng một bên. Tao cắt ra từ chiếc xe đầu tiên tao sửa một mình, không có thầy đứng kế. Tao làm quả cầu đó, thằng Bền xin lông gà của bà Sáu.
Tui nhớ hôm đó, ở vỉa hè, chú cầm quả cầu lên, lấy ngón tay cái miết lên cái long đền dưới cùng, nhìn lâu hơn một cái long đền đáng được nhìn.
– Hồi đó tao đá cứng đơ. – Chú nói tiếp. – Thằng Bền đứng bên kia sân, la hoài: đầu gối mềm, đầu gối mềm. Đá cầu không phải đá bằng chân, đá bằng đầu gối. Câu đó là của nó. Nó dạy tao.
Năm đó phường mở giải đá cầu thanh niên. Hai người vô tới chung kết, gặp một đôi của xưởng giày, đôi mạnh nhất vùng. Cả xóm đi coi. Bà Sáu đóng sạp hột vịt lộn một buổi. Ông thầy của chú Sáu đóng tiệm. Người ta đứng chật ba lớp quanh cái sân đất, con nít leo lên mấy cây điều ngồi vắt vẻo coi. Hai thằng mặc hai cái áo thun trắng giống nhau mua ở chợ, sau lưng tự lấy bút lông viết số, thằng Bền số một, chú Sáu số hai, vì thằng Bền nói nó đá hay hơn.
– Hồi đó có một ông, tên Lẫm, cả vùng kêu là Hai Lẫm. – Chú Sáu nói. – Ổng ghi đề, gom tiền cá độ đá banh, cho vay. Giải nào ổng cũng có mặt, ngồi trên xe ở mé sân, y như bây giờ. Thằng Toại là cháu ổng. Năm đó nó mười bốn tuổi, ngày nào cũng ngồi sau xe ông chú nó đi gom tiền.
Tui nhớ anh Toại ngồi trên chiếc xe tay ga trắng ở mé sân chợ, vỗ tay chậm rãi.
– Má thằng Bền dưới quê bị bệnh nặng, phải mổ. Nó mượn của Hai Lẫm tám triệu. Tám triệu năm đó bằng cả năm lương xưởng gỗ. – Chú Sáu nói. – Tao không biết. Tao chỉ biết chung kết, ván ba, mười chín đều. Thằng bên kia đá một trái tấn công không mạnh, rơi đúng chỗ thằng Bền đứng. Trái đó, thằng Bền nhắm mắt cũng đỡ được.
Chú dừng lại. Chú đưa tay lấy ly cà phê nguội, cầm lên, rồi lại đặt xuống, không uống.
– Nó không đỡ. – Chú nói. – Nó đứng đó. Đầu gối nó cứng như khúc cây. Cầu rơi xuống cách mũi chân nó một gang tay. Nó nhìn cầu rơi.
Một gang tay. Tui nghĩ đến mấy trái Quới đá dư tối hôm qua, mỗi trái ra ngoài vạch sơn đúng một gang tay.
– Mười chín – hai mươi. Trái sau, tao đỡ hụt, vì tao còn đang nhìn nó. Mười chín – hai mốt. Thua. Huy chương bạc.
– Rồi sao chú?
– Đêm đó tao đi tìm nó. Nó ngồi ngoài bờ ruộng, khóc. Nó kể hết. Hai Lẫm nói thua chung kết thì xoá nửa nợ. – Chú Sáu nhìn lên khoảng vách trắng hình chữ nhật, cây đinh trơ. – Tao về tiệm, gỡ tấm hình xuống. Tấm hình hai đứa tao chụp sau trận bán kết, mỗi đứa một tay cầm quả cầu long đền, cười như hai thằng khùng. Ông thầy tao treo lên vách cho cả xóm coi. Tao gỡ xuống, úp mặt vô hộc tủ. Hai mươi mốt năm nay tao không nói với nó câu nào.
Chú kéo cái hộc tủ dưới bàn đồ nghề ra. Hộc tủ đầy ốc vít, bu-gi cũ, mấy cuộn băng keo cách điện. Chú thò tay xuống đáy, lấy ra một cái khung hình gỗ nhỏ, mặt kính úp xuống, lưng khung dán giấy dầu đã ngả vàng. Chú cầm cái khung trong tay, không lật lên. Tui ngồi đối diện, chỉ thấy cái lưng khung và mấy ngón tay của chú, đen dầu nhớt, bấu vào cạnh gỗ.
Rồi chú bỏ cái khung vô lại đáy hộc tủ, đẩy hộc tủ vô, đẩy mạnh tới mức mấy con ốc bên trong kêu rổn rảng.
Tui ngồi trên cái thùng sơn, thấy hai bàn tay mình lạnh ngắt dù trời tháng Tám nóng hầm hập. Ngoài đường có một chiếc xe ba gác chở mấy khối gỗ chạy ngang, rầm rầm, làm cánh cửa cuốn rung lên bần bật, rồi xa dần.
– Chú. – Tui nói. – Quới đang làm y vậy.
– Tao biết. – Chú Sáu nói. – Nghe mày kể là tao biết. Nhưng mày nghe tao nói cho kỹ. Bán kết, thằng Quới sẽ đá hết sức. Đá còn hay hơn mọi bữa. Vì phải vô được chung kết thì người ta mới mua. Chung kết mới là chỗ nó bán.
Chú đứng dậy, kéo cửa cuốn lên. Ánh nắng bảy giờ sáng tràn vô tiệm, rọi lên mấy chiếc xe dựng chật, lên cây đinh trơ trên vách.
– Chú nói với nó đi chú. – Tui nói. – Chú là người duy nhất biết...
– Chuyện nhà nó. – Chú Sáu nói, cắt ngang. – Ba nó bán một lần rồi. Giờ ba nó để con nó bán. Tao không phải ba nó.
– Nhưng chú...
– Mày về đi. Thằng Quới sắp tới.
Tui đi ra. Tới đầu đường, tui thấy Quới đạp xe tới, áo ba lỗ, đôi dép tổ ong, vừa đạp vừa tâng quả cầu long đền trên một chân cho vui. Nó thấy tui, giơ tay lên chào. Tui giơ tay chào lại, rồi rẽ vô hẻm, đi thật nhanh, không quay lại.
Cả ngày hôm đó tui ngồi trong phòng, không làm được gì. Tui mở đề Toán ra làm, cái đề má bắt tối nào cũng làm. Câu một giải phương trình, tui viết đi viết lại một dòng ba lần mà không ra. Câu hai hình học, tui vẽ cái tam giác xong thì ngồi nhìn nó, thấy ba cái góc như ba cái long đền chồng lên nhau.
Bé Mít lật bảng điểm các-tông của nó, lật từ không tới hai mốt, rồi từ hai mốt về không, lật hoài. Tui nhìn đôi giày nâu của Nguyên đặt trên kệ, nghĩ tới câu "tao phải thắng" của nó. Tui nghĩ tới bà Sáu đóng sạp hột vịt lộn đi coi chung kết năm hai nghìn lẻ năm. Nghĩ tới tấm huy chương bạc treo cạnh cửa sổ đóng kín ở phòng mười hai, mà chú Tư Bền say quá thì ngồi nhìn cả buổi.
Má về lúc bảy giờ, mặt hốc hác. Má ngồi xuống chiếu, chưa thay đồ, móc điện thoại ra gọi cho bà ngoại dưới quê. Tui nghe má nói "dạ", "dạ", nghe má hỏi trường ngoài xã năm nay có lấy học sinh chuyển về không, nghe má nói "con tính rồi, má đừng lo". Má cúp máy, ngồi im, hai bàn tay úp lên mặt.
Tui định kể. Tui đã mở miệng ra. Rồi tui nhìn má, nhìn hai bàn tay còn dính xơ vải của má, và tui ngậm miệng lại. Má mệt quá rồi. Má có chuyện của má.
Chín giờ rưỡi tối, vách phòng tui kêu cộp, cộp, cộp.
Tui đi ra. Quới đứng dưới bóng đèn đường, tâng quả cầu, như mọi đêm. Hai đứa đi bộ ra sân chợ, không ai nói gì. Con hẻm tối, chỉ có tiếng ti vi vọng ra từ mấy phòng trọ, tiếng chó sủa ở dãy trọ đường trên, tiếng dép tổ ong của Quới lẹp xẹp trên mặt đường bê tông. Tới dưới cây đèn cao áp, Quới thảy quả cầu cho tui. Tui không đỡ. Quả cầu rơi xuống bãi xi măng, ba cái long đền kêu leng keng.
– Ba mày nợ anh Toại bao nhiêu?
Quới đứng im. Mặt nó dưới ánh đèn vàng khè, tui không đọc được gì. Rồi nó cười, cái kiểu cười hôm nó thấy đôi giày nâu.
– Ông Sáu kể mày nghe rồi hả.
– Bao nhiêu?
– Mười hai triệu. – Quới nói. Nó cúi xuống nhặt quả cầu, phủi mấy cọng lông gà. – Mày có mười hai triệu không, Lụm?
— Hết chương 6 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe