Chương 4: Tấm ảnh năm tám chín
Biền không trả lời được. Cả đội kèn trong kho đang nhìn nó.
Mão nhảy ra đứng chắn trước mặt nó như mọi lần.
– Dạ, nó là con nhà bán bún riêu ở chợ xã đấy ông ạ. Bún riêu ngon nhất xã, ông đi chợ hỏi bún riêu bà Lụa là ai cũng biết.
Ông cụ không nhìn Mão. Ông vẫn nhìn Biền. Ông nói với bác bảo vệ Thứ, giọng đã lại bình thường:
– Anh Thứ cho tôi mượn cậu học trò này ra ngoài một lát.
Ngoài cửa kho có một cây bằng lăng đã rụng gần hết lá. Ông cụ đứng tựa vào gốc cây, hai tay đặt chồng lên đầu cây ba toong. Biền đứng trước ông, cây kèn vẫn cầm trong tay.
– Tôi là Khoát. Ngày xưa tôi dạy Toán ở trường này, và dạy cả đội kèn đồng từ năm tám lăm đến năm chín mươi. – Ông nói. – Bài hành khúc các cậu đang tập là tôi viết. Viết năm tám bảy, cho đội đi hội diễn tỉnh.
Biền nghĩ đến chữ K ở góc tờ giấy.
– Bố cậu tên Cừ phải không? Phạm Văn Cừ, nhà ở xóm Đình.
Biền không còn đường chối. Nó gật đầu.
– Tôi dạy bố cậu hai năm. – Ông Khoát nói. – Cả đội kèn ngày ấy, bố cậu thổi hay nhất. Có một câu luyến bố cậu tự nghĩ ra, ở cuối câu thứ tư của bài hành khúc. Tôi viết nốt đi thẳng, bố cậu cứ nhất định luyến lên. Tôi bảo sai rồi, bố cậu bảo thầy ơi, thổi thế này thì người ta mới nhớ. Lúc nãy tôi đứng ngoài cửa, nghe cậu thổi đúng câu ấy.
– Cháu không biết. – Biền nói. – Bố cháu chưa bao giờ kể bố cháu học kèn ở trường.
Ông Khoát cúi nhìn mũi giày. Gió chiều thổi qua cành bằng lăng khô, vài cái quả khô rơi lách tách trên mái kho.
– Thế à. – Ông nói. Rồi ông ngẩng lên. – Cậu về bảo bố cậu là thầy Khoát xin gặp. Bảo đúng như thế. Xin gặp.
Ông đi ra cổng, bác Thứ đỡ một bên tay. Bảo chạy theo ông, ngoái lại nhìn Biền một cái lạ lùng, như nhìn một bài toán chưa có đáp số. Trong kho, cô Hân đứng ở cửa từ lúc nào, nét mặt không giấu được là cô đã nghe hết.
Sáng thứ Hai tuần sau, Bảo đi thẳng đến bàn Biền trong giờ ra chơi, đặt xuống một cái phong bì thư màu nâu.
– Ông tao bảo đưa mày.
Trong phong bì là một tấm ảnh đen trắng, khổ bằng bàn tay, góc đã quăn. Mười một đứa học trò đứng trước cổng trường, cái cổng cũ còn là hai cột gạch vôi, chưa có tấm biển sắt như bây giờ. Đứa nào cũng mặc áo sơ mi trắng bỏ trong quần, có đứa đi dép nhựa, có đứa đi chân đất. Mỗi đứa ôm một nhạc cụ. Đứng giữa là một người đàn ông trẻ đeo kính, mặc áo đại cán, chắc là thầy Khoát hồi bốn mươi tuổi. Đứng cạnh thầy, cao nhất hàng, gầy như cây sào, là một thằng con trai ôm cây trumpet ngang ngực, mắt nheo lại vì nắng.
Biền không cần lật mặt sau mới biết. Nhưng nó vẫn lật. Mặt sau có một dòng chữ bút chì, nét nghiêng y như bản nhạc chép tay trong hộp số một: "Đội kèn đồng, tháng Năm năm 1989. Đứng cạnh tôi: Cừ, kèn số 02."
Mão ngồi bên cạnh, ghé mắt vào nhìn, rồi há miệng ra mà không nói được gì. Lần đầu tiên Biền thấy Mão không nói được gì.
– Bố mày học trường này à? – Bảo hỏi. Giọng nó không còn cái kiểu chê bai trong kho hôm trước. – Ông tao kể bố mày thổi kèn hay nhất đội. Ông tao còn bảo cái câu luyến hôm thứ Năm mày thổi là của bố mày nghĩ ra. Thế mà tao lại bảo nghe như kèn đám ma.
Biền nhét tấm ảnh vào phong bì.
– Thì đúng là kèn đám ma thật. – Nó nói, và tự nó cũng không hiểu sao nó nói được câu ấy.
Bảo nhìn nó, định hỏi thêm thì trống vào lớp.
Hai giờ chiều, Biền ra hàng bún riêu, ngồi rửa bát với mẹ trong cái chậu nhôm to dưới vòi nước của chợ. Đợi đến lúc vãn khách, nó lau tay, lấy tấm ảnh ra đưa cho mẹ.
Mẹ cầm tấm ảnh rất lâu. Mẹ không ngạc nhiên. Mẹ chỉ thở ra một hơi dài, như người đã đợi một cái gì đó rơi xuống từ lâu, giờ nó mới rơi.
– Mẹ biết bố học trường ấy à?
– Cả xóm này ai chả biết. – Mẹ nói, giọng nhỏ. – Chỉ có con là không biết, vì không ai dám nói trước mặt bố con.
Mẹ đặt tấm ảnh lên mặt bàn gỗ, lấy cái khăn lau tay đè lên một góc cho khỏi bay.
– Năm bố con học lớp mười một, đội kèn của trường mất một cây kèn. Trước hôm đi hội diễn tỉnh mấy ngày. Nhà trường lục cặp cả đội, thấy trong cặp bố con có cái ống ngậm của cây kèn ấy. Người ta bảo bố con lấy kèn đem bán, chỉ giữ lại cái ống ngậm. Bố con bảo bố con mượn ống ngậm mang về tập với kèn của ông nội, không ai tin. Nhà mình nghèo nhất xóm, ông nội con thì đi đám, người ta bảo con nhà kèn đám thì tay chân thế nào chả biết.
– Rồi sao hả mẹ?
– Rồi bố con bỏ học. Đi theo phường ông nội từ đấy. – Mẹ cầm cái giẻ lên, lau lại cái mặt bàn đã sạch. – Mẹ về làm dâu năm chín tám, mẹ hỏi bố con đúng một lần. Đêm ấy bố con đi ra đê ngồi đến sáng. Từ đấy mẹ không hỏi nữa. Con cũng đừng hỏi.
Biền nghĩ đến cái ống ngậm bằng bạc khắc hai con số 02. Nó nghĩ đến lúc một giờ sáng, bố ngồi dưới bóng đèn ngủ xoay xoay cái ống ngậm trong lòng bàn tay.
– Mẹ ơi, thế cái ống ngậm trên kèn của bố bây giờ...
– Mẹ bảo con đừng hỏi. – Mẹ nói, lần này giọng to hơn. Một bà bán rau bên cạnh quay sang nhìn. Mẹ cúi xuống, nhỏ giọng lại: – Con cầm tấm ảnh về đưa bố con. Nhưng đừng hỏi gì.
Tối ấy, Biền đặt cái phong bì nâu lên mâm cơm, cạnh bát canh rau ngót, rồi nói đúng câu ông Khoát dặn:
– Thầy Khoát xin gặp bố.
Bố nhìn cái phong bì một lúc mới mở ra. Bố rút tấm ảnh ra, nhìn mặt trước, không lật mặt sau. Ông Đoái ngồi đầu mâm đặt bát xuống. Mẹ gắp rau cho ông, tay hơi run.
Bố nhìn rất lâu. Rồi bố cất tấm ảnh vào phong bì, đặt lại chỗ cũ.
– Ông ấy muốn gặp thì bảo ông ấy đến nhà. – Bố nói. – Bố không đến trường.
Rồi bố ăn hết bát cơm, đứng dậy đi ra sân. Đêm ấy Biền nghe tiếng bố lau kèn ngoài hiên, tiếng vải nỉ chà lên đồng đều đều, lâu như chưa bao giờ lau.
Hôm sau Biền nói lại với Bảo. Bảo gãi đầu.
– Ông tao yếu tim. Từ hôm lên trường về ông tao cứ ngồi ngoài hiên, bảo muốn đi. Bố tao không cho. – Bảo ngập ngừng. – Chiều nay mày sang nhà tao một lát được không? Ông tao bảo nếu bố mày trả lời thì ông muốn nghe tận tai.
Nhà Bảo ở dãy phố chợ, cái nhà ống ba tầng ốp đá, tầng một bày bàn ghế gỗ của xưởng mộc nhà nó. Ông Khoát ở căn phòng nhỏ phía sau, cửa sổ nhìn ra một cái sân con trồng hai chậu hoa trà. Phòng ông sạch, ít đồ: một cái giường, một cái bàn gỗ có bộ ấm chén, một cái tủ gỗ lim hai cánh khoá bằng một cái khoá đồng nhỏ. Trên tường treo một tấm ảnh bà cụ, hiền, tóc búi.
Ông ngồi trên giường, khoác cái áo dạ màu ghi. Thấy Biền, ông chống tay định đứng dậy, Bảo phải đỡ ông ngồi xuống.
– Bố cậu bảo sao?
Biền nói lại câu của bố, không bớt chữ nào: ông ấy muốn gặp thì bảo ông ấy đến nhà, bố không đến trường.
Ông Khoát nghe xong thì gật đầu, gật mấy lần liền. Ông không buồn. Biền thấy ông như nhẹ đi.
– Phải. – Ông nói. – Phải là tôi đến. Bố cậu nói đúng. Thứ Bảy này tôi đến.
Ông nhìn sang cái tủ gỗ lim, rồi nhìn Biền.
– Cậu hát cho tôi nghe câu thứ tư ấy được không? Không cần kèn. Ư ử bằng miệng thôi.
Biền đỏ mặt, liếc sang Bảo. Bảo quay đi giả vờ rót nước. Biền hát khẽ, ư ử theo đúng lối bố dạy, đến nốt cuối thì luyến lên. Ông Khoát nhắm mắt lại nghe, ngón tay gõ nhịp trên đầu gối. Khi Biền hát xong, ông vẫn chưa mở mắt.
– Ba mươi lăm năm. – Ông nói, như nói với chính mình. – Ba mươi lăm năm, câu ấy vẫn còn. Tôi tưởng nó đi theo bố cậu ra đê rồi.
Lúc Biền về, ông gọi với ra cửa:
– Bảo bố cậu, tôi còn nợ bố cậu một câu. Thứ Bảy tôi mang đến.
Nhưng ông không đợi được đến thứ Bảy. Thứ Tư, Bảo nghỉ học. Thứ Năm, cả lớp biết ông Khoát lên cơn đau tim, phải đưa lên bệnh viện tỉnh. Buổi tập ở kho chiều thứ Năm vắng tiếng trống. Không ai đánh nhịp, đội kèn đi lạc ngay từ ô nhịp thứ ba. Mão cố đánh trống cái thay, đánh to đến mức cô Hân phải cho cả đội nghỉ sớm. Tối ấy Biền nhắn cho Bảo một tin, hỏi ông thế nào. Gần nửa đêm Bảo mới trả lời: ông tỉnh rồi, mệt lắm. Một lúc sau Bảo nhắn thêm một dòng nữa: ông cứ hỏi hôm nay là thứ mấy.
Tối thứ Sáu, nhà Biền đang xem thời sự thì điện thoại của bố đổ chuông. Bố nghe máy, đứng dậy đi ra hiên. Biền nghe tiếng bố nói "vâng", "vâng", rồi im rất lâu. Rồi bố nói thêm một câu mà Biền nghe không rõ.
Bố quay vào, đứng ở cửa, tay vẫn cầm điện thoại. Ông Đoái tắt ti vi.
– Thầy Khoát mất rồi. – Bố nói. – Lúc tám giờ. Nhà thầy mời phường mình.
— Hết chương 4 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe