Chương 9: Giàn cá trước cơn áp thấp
Xe khách thả tôi xuống ở một ngã ba ven quốc lộ lúc ba giờ chiều. Từ đó vào xóm Bãi Ngang còn bảy cây số đường đất đỏ. Xe ôm chở tôi qua những ruộng khoai lang, những rặng phi lao nghiêng một phía, những ngôi nhà mái bằng thấp lè tè quay lưng ra biển.
Trời xám. Gió thổi ngược, mạnh dần. Bác xe ôm nói đài báo có áp thấp nhiệt đới, đêm nay vào bờ. Ngoài bãi, người ta đang kéo thuyền lên cao, những chiếc thuyền thúng tròn như cái nong úp, những chiếc thuyền máy sơn xanh đỏ. Đàn ông đẩy, đàn bà kéo dây, con nít chạy loăng quăng hét theo nhịp hò.
– Nhà bà Nhỏ phơi cá hả? – bác xe ôm hỏi. – Ngay cuối xóm, chỗ có cái giàn to nhất.
Cái giàn phơi cá ấy dài cả chục mét, dựng bằng tre và lưới nilon xanh trên bãi cát sau một ngôi nhà mái tôn. Trên giàn là hàng trăm con cá thu, cá nục xẻ đôi, mặt thịt trắng hồng ngửa lên trời xám. Mùi cá khô, mùi muối, mùi biển trộn vào nhau đặc quánh. Một người đàn bà nhỏ thó, da đen sạm, đội nón lá buộc quai dưới cằm, đang cố kéo một tấm bạt lớn phủ lên giàn. Gió giật tấm bạt bay phần phật, kéo bà lảo đảo.
Tôi chạy tới, chụp lấy một góc bạt.
Bà ngước lên nhìn tôi, không hỏi tôi là ai. Hai người kéo tấm bạt phủ kín một đầu giàn, chặn mép bằng mấy bao cát. Rồi tấm thứ hai. Tấm thứ ba. Gió mỗi lúc một mạnh, cát bay rát mặt. Khi tấm bạt cuối cùng đã chặn xong, bà đứng thở, phủi tay, rồi mới nhìn tôi từ đầu tới chân.
– Cô là ai?
– Dạ, cháu là Cốm. Ở làng Thạch Hương.
Bà im. Tôi thấy mặt bà sầm lại, rồi giãn ra, rồi lại sầm lại.
– Tôi đã bảo cô đừng gọi, – bà nói. – Giờ cô lặn lội vô tận đây.
Đúng cái giọng tôi đã nghe trong điện thoại, khàn, đặc, lạnh như nước biển tháng Chạp.
– Dạ, cháu không gọi. Cháu tới.
Bà nhìn tôi rất lâu. Trên đầu chúng tôi, mây kéo đen kịt từ ngoài khơi vào. Mấy giọt mưa đầu tiên rơi xuống tấm bạt kêu lộp độp.
– Vô nhà, – bà nói. – Mưa rồi. Bão tới nơi mà cô đứng ngoài ni thì tôi mang tội.
Bếp nhà bà Nhỏ là một gian nhỏ lợp tôn, bếp củi, khói ám đen vách. Bà nhóm lửa, bắc nồi cháo, rồi ngồi xuống cái ghế đẩu đối diện tôi, hai tay đặt lên đầu gối. Ngoài kia mưa đổ ào ào, gió rít qua mái tôn, cả gian bếp rung lên từng chặp.
– Thằng Diện đi ra cửa lạch phụ người ta kéo thuyền, – bà nói. – Tối mới về. Cô ăn cháo đi.
– Bác ơi, đám cưới...
– Không có đám cưới mô hết. – Bà nói nhanh, như người muốn nói cho xong. – Đám cưới là của thằng Hưng, con chú nó, cưới hồi tháng Tám. Tôi nói dối cô.
Tôi đặt cái bát xuống.
– Sao bác...
– Vì tôi là mạ nó. – Bà nhìn vào bếp lửa. – Tháng Giêng nó về đây, mang theo một cái ba lô với một cái hộp các tông. Không nói, không cười. Đêm mô cũng ra ngồi ngoài bãi tới khuya. Tôi hỏi, nó bảo nó làm hại một nhà. Tôi hỏi nhà ai, nó không nói. Rồi tháng mô nó cũng lấy tên tôi, số tôi, đặt mua hương nhà cô. Tháng mô cô cũng trả tiền lại, ghi hai chữ hết hàng. Nó ngồi nhìn hai chữ đó trên điện thoại cả buổi chiều, như người ta nhìn giấy báo tử.
Bà lấy que củi khều cho lửa cháy to lên.
– Cô gọi tới, tôi nghe cái tên làng hương là tôi biết. Tôi nghĩ, con nhà người ta đuổi con tôi như đuổi chó, giờ gọi tới làm chi nữa, để nó chờ thêm một năm à. Tôi nói dối cho cô đi luôn. Tôi không hối hận. – Bà ngừng một lúc. – Mà tôi cũng không ngờ cô vô tận đây.
Tôi không nói được gì. Bà đứng dậy, đi vào gian trong, rồi trở ra với một cái bao tải dứa. Bà đặt cái bao xuống chân tôi, mở miệng bao ra.
Trong bao là hàng trăm bó que tre. Những que tre nhỏ, vót tròn, dài bằng nén hương, mỗi bó chừng hai chục que. Bó nào cũng buộc một sợi chỉ đỏ. Và mỗi sợi chỉ đỏ đều thắt một cái nút.
Tôi bốc một nắm lên. Những bó dưới đáy bao, nút méo xệch, tuột một nửa, có bó buộc thành cục rối. Những bó ở giữa, cái nụ đã ra hình, nhưng lệch, như chùm hoa cau bị sâu. Những bó ở trên cùng, nút gần tròn, vòng xoắn chụm lại, chỉ còn hơi lỏng ở một vòng.
– Nó vót que, – bà Nhỏ nói. – Tối mô cũng ngồi vót ngoài hiên, vót xong bó lại, thắt cái nút ni. Thắt hỏng thì bó cái khác. Tôi hỏi thắt chi, nó bảo thắt cho tới khi được. Tôi hỏi được rồi thì răng, nó bảo được rồi thì thôi. – Bà nhìn cái bao. – Gần tám tháng. Tôi đếm không xuể.
Tôi ngồi bên bếp lửa, cầm một bó que tre có cái nút gần tròn, và lần đầu tiên từ cái đêm ở bệnh viện, tôi khóc được.
Bà Nhỏ không nói gì. Bà múc thêm cháo vào bát tôi, rồi ngồi đó nhìn lửa.
Anh về lúc mười giờ đêm, ướt sũng từ đầu tới chân, áo mưa rách một bên vai. Anh đẩy cửa bếp, thấy tôi, đứng sững ở ngưỡng cửa, nước mưa từ tóc nhỏ xuống thành dòng.
Bà Nhỏ đứng dậy.
– Thay đồ đi rồi ăn cháo, – bà nói với anh. – Con nhà người ta ngồi đây từ chiều.
Rồi bà đi vào gian trong, kéo tấm rèm vải lại.
Đêm ấy áp thấp vào bờ, gió giật cả đêm, mưa như ai đổ nước từ trên trời xuống. Tôi ngủ trên cái giường tre ở gian ngoài, nghe mái tôn rung, nghe tiếng sóng gầm ngoài bãi. Anh ngủ dưới bếp. Chúng tôi không nói với nhau câu nào ngoài câu chào.
Năm giờ sáng, mưa tạnh. Tôi ra bãi.
Trời sau bão trong vắt. Bãi cát ngổn ngang rác, rong biển, cành phi lao gãy. Thuyền vẫn nằm trên cao. Mấy ông già ngồi xếp bằng trên cát, vá những tấm lưới bị gió xé. Anh ngồi giữa họ, cái thoi đan lưới trong tay, đôi vai cúi xuống.
Tôi ngồi xuống cạnh anh. Mấy ông già nhìn tôi, nhìn anh, rồi lặng lẽ đứng dậy, kéo lưới ra xa một quãng.
Tôi lấy trong túi ra ba tờ giấy có dấu đỏ, đặt lên đùi anh.
Anh đọc. Anh đọc rất chậm, từng dòng, như đọc một bảng số liệu. Tay anh vẫn cầm cái thoi đan lưới.
Tôi kể. Sạp hàng của bà Ba. Cái nút dẹt. Cái que tăm bốn cạnh. Hai mươi ba tờ biên nhận. Cái hộp các tông trong phòng thầy Tâm. Bó hương nút méo. Đôi khuyên vàng của mẹ. Cái kho mái tôn xanh. Buổi họp làng. Chữ "đúng" tôi nói trước cả làng. Mẹ tôi ngồi thắt nút hoa cau tới nửa đêm.
Anh nghe hết. Khi tôi kể xong, anh đặt cái thoi đan lưới xuống cát.
– Em tự tìm ra, – anh nói.
– Anh tìm ra trước.
– Anh tìm ra được một nửa. Nửa còn lại là của em. – Anh nhìn ra biển. – Anh xin lỗi. Anh nói câu ni với em một năm rồi mà chưa nói được lần mô cho đàng hoàng.
– Em cũng xin lỗi, – tôi nói. – Vì đuổi anh trước mặt cả họ. Vì sáu lần hết hàng.
Anh cười, một cái cười rất nhỏ, rất mệt.
– Sáu lần, – anh nói. – Anh đếm.
Sóng sau bão vẫn còn lớn, đổ ầm ầm vào bờ, tung bọt trắng. Một con chim biển sà xuống bãi, mổ mổ vào đám rong.
– Anh về với em, – tôi nói.
Anh không trả lời ngay.
– Mẹ em đã nói, nếu anh bước vào nhà thì bác chết, – anh nói. – Anh làm bác ngất phải vào viện. Anh làm em trai em bỏ học. Anh không về để làm bác đau thêm lần nữa.
– Mẹ em khác rồi. Mẹ em biết hết rồi. Mẹ em biết bó hương nút méo.
– Bác chưa nói với anh câu mô hết. – Anh cúi xuống, cầm lại cái thoi. – Mạ anh cũng ở một mình. Anh dạy hóa ở trường cấp ba gần chợ, học trò thương anh. Anh không bỏ chỗ ni đi được, chỉ vì anh muốn.
Tôi nhìn anh. Tôi muốn nói nhiều thứ. Nhưng tôi hiểu anh. Anh là người không sửa một con số. Anh cũng là người không bước qua một cánh cửa mà chủ nhà chưa mở.
Anh tiễn tôi ra ngã ba quốc lộ bằng chiếc xe máy cũ của mạ anh. Suốt bảy cây số, tôi ngồi sau, tay bám vào vạt áo anh, không ai nói gì. Lúc xe khách tới, anh nhấc cái túi vải của tôi lên xe, rồi đứng dưới lề.
– Em đi đi, – anh nói. – Đường xa.
Rồi anh thò tay vào túi áo, lấy ra một bó que tre nhỏ, cái bó trên cùng của cái bao tải dứa, sợi chỉ đỏ thắt cái nút gần tròn. Anh đưa qua cửa xe cho tôi.
– Bó ni vẫn chưa được, – anh nói. – Còn lỏng một vòng. Anh không biết sai chỗ mô. Em mang về, khi mô rảnh thì chỉ cho anh.
Tôi cầm bó que tre. Tôi không hỏi chỉ bằng cách nào, khi anh ở đây còn tôi ở kia. Anh cũng không nói.
Xe chạy được mười phút thì điện thoại tôi đổ chuông. Thằng Tùng.
– Chị ơi! – nó hét trong điện thoại. – Có người quay cái clip chị nói ở nhà văn hóa, đăng lên mạng, giờ người ta chia sẻ khắp nơi. Có một hợp tác xã làm đồ lễ sạch ở Huế gọi tới, họ đặt ba nghìn bó hương vỏ bưởi, giao trước hai mươi ba tháng Chạp. Họ trả trước một nửa. Họ dặn phải là hương làm trong tháng Chạp, hương mới thì mùi bưởi mới còn thơm tới Tết.
– Ba nghìn bó?
– Ba nghìn bó. – Giọng nó chùng xuống. – Mà chị ơi. Tháng Chạp ngoài mình là mùa mưa phùn. Nhà mình bán cái lò sấy rồi.
— Hết chương 9 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe