Chương 11: Nút hoa cau
Anh không trả lời ngay câu mẹ tôi hỏi. Anh nhìn xuống bàn tay băng trắng, rồi nhìn ra đê, nơi chiếc xe tải vừa khuất.
– Dạ, cháu về quê với mạ, – anh nói. – Mạ cháu ở một mình.
– Thế thì đón mạ cháu ra đây, – mẹ tôi nói, như người ta bàn chuyện mua thêm cân gạo. – Nhà bác thiếu gì chỗ ngủ. Ăn Tết ở đây rồi ra Giêng về.
Anh đứng im. Tôi cũng đứng im. Thằng Tùng thì quay mặt đi, vai rung rung, không biết đang cười hay đang làm gì.
Hai mươi tám tháng Chạp, mạ anh ra.
Bà Nhỏ xuống xe khách ở bến làng lúc bốn giờ chiều, nón lá, áo bông cũ, tay xách hai cái làn nhựa nặng trĩu. Một làn đựng cá thu khô, cá nục khô, một hũ ruốc, một bó kẹo cu đơ. Làn kia đựng một con gà trống buộc chân, thò đầu ra ngoài kêu quác quác suốt quãng đường từ bến vào ngõ.
Mẹ tôi ra tận cổng đón. Hai người đàn bà đứng nhìn nhau. Một người làm hương bốn mươi năm, tay chai vì bột bời lời. Một người phơi cá bốn mươi năm, tay nứt nẻ vì muối. Một người từng bảo con trai người kia bước vào nhà thì mình chết. Một người từng nói dối con gái người kia là con trai mình sắp cưới.
– Chị vào nhà đi, – mẹ tôi nói. – Ngoài này lạnh.
– Tôi mang con gà ra, – bà Nhỏ nói, giơ cái làn. – Gà quê, thả đồi. Chị đừng chê.
– Gà nhà tôi cũng thả, – mẹ tôi nói. – Thả sân hương. Nó mổ hết bột quế, thịt thơm mùi quế.
Bà Nhỏ bật cười. Mẹ tôi cũng cười. Hai người đàn bà đi vào nhà, mỗi người xách một cái làn, nói chuyện như người quen đã lâu, và từ đó cho tới hết Tết, tôi gần như không chen được vào câu nào.
Tối hai mươi chín, hai bà ngồi ở xưởng gói bánh chưng. Mẹ tôi gói bánh chưng vuông, bà Nhỏ gói theo kiểu quê anh, cãi nhau về chuyện nên buộc lạt mấy vòng. Mẹ tôi buộc lạt rồi thắt nút hoa cau ở đầu lạt, như buộc bó hương. Bà Nhỏ nhìn cái nút, nhìn rất lâu.
– Cái nút ni, – bà nói. – Thằng Diện nhà tôi thắt cả tám tháng trời, đêm mô cũng thắt.
– Tôi biết, – mẹ tôi nói. – Con Cốm kể rồi.
– Nó thắt được chưa chị?
Mẹ tôi liếc ra hiên, nơi anh đang ngồi dạy thằng Tùng làm đề hóa, bàn tay phải vẫn còn quấn gạc mỏng.
– Chưa thấy nó thắt trước mặt tôi lần nào, – mẹ tôi nói. – Chắc chưa.
Chiều ba mươi Tết, bà Ngải tới.
Bà đứng ngoài cổng, không có dây chuyền vàng, không có áo lụa màu mận. Áo khoác cũ, khăn len quấn cổ, trông bà nhỏ đi một nửa. Thằng Tùng ra cổng nhìn thấy bà thì quay vào gọi mẹ, mặt lạnh tanh.
Mẹ tôi ra. Hai người đứng hai bên cánh cổng. Tôi đứng ở hiên, anh đứng sau lưng tôi.
– Tôi tới xin lỗi em, – bà Ngải nói. Giọng bà không còn ngọt. – Tôi không biết nói gì hơn. Tôi nợ ngân hàng, nợ mối, làm liều. Tôi tưởng chở vào tận trong ấy thì ngoài này không ai biết. Rồi cái ảnh lên ti vi, tôi sợ, tôi đổ hết lên đầu em. Tôi đứng giữa sân nhà em mà khóc thương em. – Bà cúi đầu. – Tôi không mong em tha.
Mẹ tôi đứng im rất lâu. Rồi mẹ quay vào nhà. Tôi tưởng mẹ bỏ đi. Một lúc sau mẹ trở ra, trên tay cầm hai thứ: một cái phong bì, và một bó hương vỏ bưởi buộc chỉ đỏ, thắt nút hoa cau.
– Bảy mươi triệu, – mẹ đưa phong bì qua cổng. – Tiền hàng Huế trả. Nhà tôi trả chị đủ. Từ giờ không ai nợ ai.
Bà Ngải cầm cái phong bì, tay run.
– Còn cái này, – mẹ đưa bó hương. – Tối nay giao thừa, chị thắp cho các cụ nhà chị. Hương sạch. Không phẩm, không tẩm.
Bà Ngải nhìn bó hương, nhìn cái nút hoa cau, rồi bật khóc, không thành tiếng. Bà ôm cái bó hương vào ngực, gật đầu mấy cái, rồi quay đi.
Mẹ tôi đóng cổng lại. Mẹ đứng tựa vào cánh cổng một lúc, tay đặt lên then cài.
– Mẹ có tha cho bà ấy không? – tôi hỏi.
– Mẹ không biết, – mẹ nói. – Mẹ chỉ biết bốn mươi năm trước, hai đứa gánh hương đi chợ phiên, bà ấy nhường mẹ cái chỗ ngồi có bóng cây. – Mẹ buông then cổng. – Thôi, vào thổi cơm. Giao thừa đến nơi rồi.
Đêm giao thừa, mâm cỗ nhà tôi có năm người. Mẹ thắp lên bàn thờ bố ba nén hương vỏ bưởi. Khói lên thẳng, mỏng, mùi bưởi, mùi quế, mùi gỗ. Mẹ đứng khấn. Lần này tôi không nghe được mẹ khấn gì. Mẹ khấn rất ngắn, rồi quay lại, nhìn cả mâm, và lần đầu tiên sau hơn một năm, tôi thấy mẹ cười trọn một cái cười.
Sáng mồng Một, cụ Thìa chống gậy sang xông đất. Cụ bảo năm nay cụ tám mươi sáu, xông đất cho nhà nào thì nhà ấy làm ăn được, cụ chọn nhà tôi. Cụ ngồi xuống chiếu, nhận chén rượu mẹ tôi rót, rồi nhìn anh từ đầu tới chân.
– Thằng này là thằng sờ tăm của tao trong Nam đấy à?
– Dạ, cháu ạ.
Cụ thò tay vào túi áo bông, lấy ra một que tăm, đặt vào lòng bàn tay anh.
– Sờ đi. Chỗ dao tao dừng.
Anh miết ngón tay lên đầu que. Anh gật.
– Cái gờ.
– Ừ, cái gờ, – cụ nói. – Bảy mươi năm không ai khen, thế mà cứu được một nhà. – Cụ uống cạn chén rượu. – Mày giữ lấy que ấy. Tao không vót được mấy năm nữa đâu.
Chiều mồng Một, ông lái buôn Nam Định, người hủy năm trăm bó hôm bản tin, gọi tới chúc Tết. Ông nói vòng vo một lúc lâu, rồi hỏi ra Giêng nhà tôi còn nhận đơn không. Mẹ tôi cầm điện thoại, im một lúc, rồi bảo nhận, nhưng giá hương vỏ bưởi là bốn mươi nghìn một bó, không bớt.
Mồng Một, thầy Tâm nhắn tin chúc Tết. Mồng Hai, thầy gọi cho anh. Anh nghe máy ở ngoài sân, nói chuyện gần một tiếng. Tôi thấy anh nói, rồi im, rồi nói, tay trái cứ vò vò vạt áo như hôm đứng dưới gốc nhãn đầu ngõ. Lúc anh quay vào, tôi hỏi.
– Thầy xin được cho anh về nhóm, – anh nói. – Ra Giêng. Nhà trường đồng ý, với điều kiện anh làm lại từ vị trí trợ lý. Thầy bảo dự án mới về các làng nghề, thầy cần một người biết sờ que tăm.
– Anh có về không?
Anh nhìn vào gian trong, nơi bà Nhỏ đang ngồi bóc hạt dưa với mẹ tôi.
– Anh hỏi mạ rồi, – anh nói. – Mạ bảo mạ phơi cá thêm mười năm nữa vẫn được. Mạ bảo mạ không muốn thấy anh ngồi ngoài bãi nữa. Mạ còn bảo, – anh ngập ngừng, – từ Hà Nội về làng Thạch Hương đi xe buýt có một tiếng rưỡi.
Chiều mồng Ba, trời hửng nắng.
Làng Thạch Hương ngày Tết không phơi hương. Cả làng đi chúc Tết, đánh bài, uống rượu. Nhưng sáng mồng Ba, theo lệ của bà nội tôi, nhà tôi bao giờ cũng xòe một ít hương mở hàng, làm từ mẻ cuối năm, phơi ra sân để lấy may cho cả năm. Mẹ tôi giao việc ấy cho tôi. Mẹ bảo năm nay mẹ già rồi, mẹ ngồi uống chè với bà Nhỏ.
Tôi bê mười bó hương ra sân. Anh bê theo năm bó. Chúng tôi xòe từng bó ra, đặt xuống nong, chân đỏ ngửa lên. Mười lăm bông cúc đỏ nằm giữa cái sân gạch rộng ba trăm mét vuông, nhỏ bé như mười lăm cái chấm son trên một tờ giấy lớn.
Bó cuối cùng tôi chưa buộc. Tôi định lấy sợi chỉ đỏ trong túi tạp dề ra thì anh đưa tay lên.
– Để anh.
Bàn tay phải của anh đã tháo gạc từ hôm mồng Một, lòng bàn tay còn một vệt da non hồng hồng. Anh cầm sợi chỉ đỏ, quấn quanh bó hương. Vòng hai lần. Luồn ngược. Xoắn một vòng, để lỏng. Xoắn vòng thứ hai, vẫn để lỏng. Xoắn vòng thứ ba. Rồi anh kéo một lần.
Ba vòng xoắn chụm lại thành một cái nụ tròn, chắc, đều. Như chùm hoa cau mới nhú.
Anh không nói gì. Tôi cũng không nói gì. Chúng tôi ngồi xổm giữa sân, nhìn cái nút. Ở hiên nhà, tôi nghe tiếng chén chè đặt xuống bàn. Mẹ tôi và bà Nhỏ đã thôi nói chuyện từ lúc nào.
– Mạ anh hỏi anh, – anh nói, mắt vẫn nhìn cái nút. – Thắt được rồi thì răng. Anh bảo được rồi thì thôi.
– Rồi sao?
– Anh nói dối mạ.
Anh tháo sợi chỉ còn thừa ra khỏi cuộn, cầm lấy cổ tay tôi. Anh quấn sợi chỉ đỏ quanh cổ tay tôi hai vòng. Luồn ngược. Xoắn ba vòng, để lỏng. Rồi kéo một lần.
Một cái nụ hoa cau tròn trịa nằm trên cổ tay tôi, ngay chỗ mạch đập.
– Anh chưa có trầu cau, – anh nói. – Anh hỏi bác trước được không?
Tôi nhìn cái nút trên cổ tay mình. Tôi nhìn bàn tay anh, vệt da non hồng hồng ở lòng bàn tay, chỗ anh đè lên đám lửa trong cái đêm mưa phùn tháng Chạp. Tôi nghe ở hiên nhà có tiếng mẹ tôi nói rất nhỏ với bà Nhỏ, một câu tôi không nghe rõ, và tiếng bà Nhỏ cười.
– Anh không cần hỏi nữa đâu, – tôi nói. – Mẹ em nghe hết rồi.
Anh cúi xuống. Giữa cái sân hương đỏ của làng Thạch Hương, giữa mười lăm bông cúc chân đỏ ngửa lên trời chiều mồng Ba, anh hôn tôi, nhẹ như người ta đặt một nén hương xuống nong cho khỏi gãy.
Nắng chiều xuống thấp, chiếu xiên qua sân, làm những nén hương ngả sang màu son. Mùi bưởi bay lên rất nhẹ. Trên cổ tay tôi, sợi chỉ đỏ không tuột.
— Hết —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe