Chương 10: Đêm mưa phùn tháng Chạp
Bản đính chính lên sóng vào một tối giữa tháng Mười, dài ba mươi hai giây. Tôi đếm.
Người dẫn chương trình đọc đều đều. Theo kết luận của cơ quan chức năng, mẫu hương mang nhãn "Hương bà Chuyên" xuất hiện trong phóng sự trước đây là hàng giả mạo nhãn, không do cơ sở này sản xuất. Đài xin đính chính. Không có hình ảnh sân hương đỏ quay từ trên đê. Không có tấm ảnh nào. Chỉ có ba mươi hai giây chữ.
Mẹ tôi ngồi xem hết, rồi cầm cái điều khiển tắt ti vi, đứng dậy đi ra sân. Mẹ đứng giữa cái sân trống trong bóng tối rất lâu. Tôi không ra theo.
Bà Ngải bị lập biên bản xử phạt vì buôn bán hàng giả mạo nhãn hiệu, số hàng trong kho bị tịch thu. Người ta còn nói cơ quan chức năng đang xác minh chỗ làm ra thứ hàng thân hồng ấy, ở một xưởng nào đó ngoài làng. Cái kho mái tôn xanh trên mảnh vườn chuối cũ của nhà tôi khóa cửa im lìm. Bà Ngải đi đâu tôi không biết, chỉ thấy cổng nhà ba tầng đầu đê lúc nào cũng đóng.
Thằng Tùng đi học lại ngay tuần sau buổi họp làng, vào lớp muộn mất hai tuần. Hôm nó đi, tôi trèo lên nóc tủ, bê cái thùng các tông dán băng dính xuống, mở ra. Sách vở lớp mười hai còn nguyên. Nó đứng nhìn cái thùng, rồi nhìn tôi, rồi ôm cả thùng đi ra xe đạp mà không nói câu nào. Tối nào nó cũng học tới mười một giờ, xong thì ra xưởng phụ tôi xòe hương.
Mồng một tháng Chạp, nhà tôi bắt đầu làm ba nghìn bó hương vỏ bưởi.
Mẹ tôi, tôi, và hai người làm thuê. Một trong hai người ấy là cô Hằng hàng xóm, người hôm nào đứng khoanh tay ở cổng. Cô tự sang, không đợi ai gọi, bảo chị Chuyên ơi em cán phụ, chị trả em bao nhiêu thì trả. Cụ Thìa vót tăm từ sáng tới tối, vót không kịp, gọi cả con dâu, cháu nội ra vót cùng, mà cụ vẫn ngồi kiểm từng que, que nào thiếu cái gờ ở đầu là cụ bẻ đôi vứt đi.
Tuần đầu nắng hanh. Sân nhà tôi lại đỏ rực kín từ đầu tới cuối, lần đầu tiên sau hơn một năm. Người đi trên đê dừng xe lại nhìn xuống. Một nghìn bó khô giòn, buộc chỉ, thắt nút hoa cau, đóng thùng.
Mồng mười, trời trở. Gió mùa đông bắc về kèm mưa phùn. Không phải mưa to, chỉ là thứ mưa bụi lất phất cả ngày, cả đêm, như ai rây bột. Nền nhà đọng nước. Tường nhà rịn ẩm. Hương xòe ra phơi trong hiên không khô, hai ngày vẫn mềm oặt, bẻ không gãy, chỉ cong. Đến ngày thứ ba, tôi thấy những chấm trắng li ti xuất hiện trên thân hương, như rắc phấn. Mốc.
Tôi đi hỏi khắp làng mượn lò sấy. Nhà nào có lò cũng đang sấy hàng Tết của nhà mình, chạy cả ngày lẫn đêm còn không kịp. Có nhà bảo cho thuê theo giờ, nhưng phải tới sau hai mươi ba, khi hàng nhà họ đã giao xong. Nhà làng bên mua cái lò của nhà tôi hồi tháng Ba cũng lắc đầu.
Đêm mười bốn tháng Chạp, tôi ngồi trong xưởng, nhìn hai nghìn bó hương chưa khô xếp kín các giá, mùi bưởi đã bắt đầu lẫn mùi ẩm mốc. Hợp tác xã ở Huế đã trả trước một nửa. Nếu không giao được, nhà tôi phải trả lại tiền, và cái tên vừa mới được đính chính ba mươi hai giây ấy sẽ lại mang tiếng thất hứa.
Tôi úp mặt xuống bàn cán.
Chín giờ tối mười lăm, có tiếng xe máy dừng trước cổng.
Thằng Tùng ra mở cổng trước. Tôi nghe nó nói gì đó rất nhỏ, rồi im. Tôi bước ra hiên.
Anh đứng ngoài cổng, trong mưa phùn, áo mưa trùm kín người, chiếc xe máy cũ của mạ anh dựng bên cạnh, sau xe buộc hai cái thùng các tông bọc nilon. Anh không bước vào. Cổng đã mở, mà anh đứng lại ngay ngoài ngưỡng, như có một vạch vôi kẻ ở đó.
– Thằng Tùng gọi anh, – anh nói. – Anh không vô khi bác chưa cho.
Mẹ tôi từ trong nhà bước ra. Mẹ đứng trên bậc thềm, nhìn ra cổng. Mưa phùn bay xiên qua ánh đèn hiên vàng đục. Hai người nhìn nhau qua cái sân trống, qua hơn một năm.
Tôi không thở được.
– Vào đi, – mẹ tôi nói. – Đứng ngoài mưa ốm ra lại bảo tại nhà tôi.
Anh dắt xe vào sân.
Trong hai cái thùng các tông là một cái nhiệt kế, một cái ẩm kế, hai cái quạt điện cũ, một cuộn bạt nilon, mấy đoạn ống tôn, và một cuốn sổ tay ghi chép chi chít số. Anh kể anh đã tìm đọc cách người ta sấy hương ở các làng khác, gọi cho thầy Tâm hỏi, gọi cả cho ông chủ lò sấy nhãn ở quê anh. Anh đã ngồi tính trên xe khách suốt chặng đường ra. Anh xin trường cho nghỉ mười ngày, hứa ra Giêng dạy bù.
Anh đi một vòng quanh nhà, rồi dừng lại ở cái chái phía sau, chỗ cái lò sấy cũ từng đứng. Vệt xi măng sạch hình chữ nhật vẫn còn đó.
– Chỗ ni, – anh nói.
Đêm ấy anh, tôi, thằng Tùng và mẹ dựng cái buồng sấy. Anh căng bạt nilon kín bốn phía chái, chừa hai cửa thông gió. Anh đặt hai cái bếp than tổ ong ở hai đầu, chụp lên mỗi cái một cái ống tôn dẫn khói ra ngoài mái. Anh treo nhiệt kế ở giữa, ẩm kế ở góc. Anh xếp nong hương lên giá, tầng thấp nhất cách bếp gần một mét.
– Khí than độc, – anh nói với thằng Tùng. – Cấm ngủ trong buồng ni. Cấm đóng hết cửa. Mỗi lần vô thì vô hai người, ra hai người. Nhiệt không được quá năm mươi độ, quá là hương nứt, mà gần lửa quá thì cháy.
Thằng Tùng gật lia lịa, như học trò nghe giảng. Mẹ tôi đứng ở cửa chái, khoanh tay, nhìn anh làm, không nói câu nào.
Gần sáng, cái nhiệt kế chỉ bốn mươi hai độ. Cái ẩm kế tụt từ chín mươi xuống sáu mươi lăm. Hơi nước bốc lên từ những nong hương, đọng trên tấm bạt nilon rồi chảy thành giọt xuống nền.
Ba đêm liền, cứ hai tiếng một lần, anh vào đảo nong. Tầng trên xuống tầng dưới, tầng dưới lên tầng trên. Anh ghi nhiệt độ, độ ẩm vào cuốn sổ tay. Tôi đi cùng anh, cầm đèn pin. Mẹ tôi vào cùng hai lần mỗi đêm. Mẹ không nhìn nhiệt kế. Mẹ rút một nén hương ra, bẻ gần tai, nghe tiếng.
– Chưa giòn, – mẹ nói. – Còn dai. Thêm một đêm.
Anh nhìn cái ẩm kế, rồi nhìn mẹ, rồi gật.
– Số của cháu cũng nói thêm một đêm.
Lần đầu tiên tôi thấy mẹ tôi suýt cười.
Đêm thứ hai, lúc bốn giờ sáng, đảo nong xong, tôi với anh ngồi ở bậc cửa chái, chờ hai tiếng tới lượt sau. Tôi lấy trong túi áo ra bó que tre anh đưa qua cửa xe khách hôm nào, cái nút gần tròn, còn lỏng một vòng.
– Anh sai ở vòng xoắn thứ hai, – tôi nói. – Anh kéo chặt ngay. Phải để lỏng, xoắn đủ ba vòng rồi mới kéo một lần cho cả ba chụm lại.
Anh cầm bó que, gỡ ra, thắt lại theo lời tôi. Vòng xoắn thứ ba vừa xong thì tay anh khựng lại. Anh nhìn cái nụ trong lòng bàn tay mình rất lâu, rồi cất nó vào túi áo, không cho tôi xem.
Đêm mười tám, hai giờ sáng.
Tôi ngủ gục trên cái ghế ở hiên, nghe tiếng thằng Tùng hét lên trong chái. Tôi chạy vào. Một tàn than từ cái bếp ở đầu hồi bắn lên, rơi trúng mép một cái nong ở tầng thấp nhất. Mép nong tre bén lửa, rồi lửa liếm sang mấy bó hương khô nằm sát mép, bùng lên thành một đám đỏ rực, khói bốc mù mịt.
Anh lao tới trước tôi. Anh giật cái bao tải ướt treo sẵn ở cột, cái bao tải mà chính anh dặn phải lúc nào cũng nhúng nước treo đó, trùm lên đám lửa, đè xuống bằng cả hai bàn tay. Lửa tắt. Khói vẫn cuộn lên. Anh lôi cái nong cháy dở ra ngoài trời mưa, quăng xuống sân, rồi mới đứng thẳng dậy.
Lòng bàn tay phải của anh đỏ rực, phồng lên một vệt dài.
Mẹ tôi chạy ra, tay cầm tuýp kem đánh răng.
– Bôi cái này vào, bôi vào cho đỡ rát!
– Bác ơi, đừng, – anh nói, giọng run vì đau. – Để nước chảy. Nước sạch, chảy liên tục mười lăm hai mươi phút. Đừng bôi gì lên hết.
Mẹ tôi đứng sững một giây. Rồi mẹ kéo anh tới cái vòi nước ở góc sân, mở vòi, giữ bàn tay anh dưới dòng nước lạnh. Mẹ đứng đó giữ tay anh, trong mưa phùn, không buông, cho tới khi tôi mang khăn với gạc ra.
Ba giờ sáng, mẹ băng tay cho anh ở hiên nhà. Mẹ băng chậm, cẩn thận, như mẹ buộc một bó hương. Thằng Tùng ngồi canh bếp than trong chái. Tôi ngồi ở cái ghế bên cạnh, mắt nhắm, mà không ngủ. Tôi nghe được hết.
– Bố cháu mất ngoài biển à? – mẹ hỏi.
– Dạ. Năm cháu mười hai tuổi. Thuyền đi không về.
– Mạ cháu một mình nuôi cháu.
– Dạ.
Mẹ quấn thêm một vòng gạc.
– Hôm ở viện, – mẹ nói, giọng nhỏ, – bác nói câu ấy là bác nói với cái ảnh trên ti vi. Không phải nói với cháu.
Anh không nói gì.
– Bác làm hương bốn mươi năm, – mẹ nói tiếp. – Bác giấu một cái can ba năm. Cháu thì không giấu nổi một con số. – Mẹ thắt cái nút gạc lại. – Bác già rồi, bác không biết nói thế nào cho phải. Bác chỉ biết là cháu không có lỗi bằng bác.
Tôi mở mắt. Mẹ tôi đang cúi xuống, mắt nhìn bàn tay băng trắng của anh, và mẹ đang khóc. Lần đầu tiên trong đời, tôi thấy mẹ khóc trước mặt một người ngoài.
Hai mươi mốt tháng Chạp, ba nghìn bó hương vỏ bưởi khô giòn, bẻ gần tai nghe tách một tiếng gọn. Bó nào cũng buộc chỉ đỏ, thắt nút hoa cau. Mẹ, tôi, cô Hằng, thằng Tùng buộc suốt hai đêm. Anh ngồi đóng thùng bằng tay trái.
Sáng hai mươi hai, xe của chành anh Thực vào tận sân, chở ba trăm thùng hương đi Huế. Anh Thực không lấy tiền cước, bảo đây là tiền tôi nợ bà Chuyên.
Chúng tôi đứng ở cổng nhìn theo chiếc xe tải chạy lên đê, khuất dần sau hàng phi lao. Mưa phùn đã tạnh. Trời xám bạc.
Mẹ tôi quay sang anh, nhìn bàn tay băng trắng của anh, rồi nhìn lên mặt anh.
– Tết này cháu ăn ở đâu?
— Hết chương 10 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe